TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rùa núi viền

Tên tiếng Anh: Impressed tortoise
Tên Latin: Manouria impressa
Đồng danh: Geoemyda latinuchalis Vaillant, 1894
Đồng danh: Testudo pseudemys Boulenger, 1903
Đồng danh: Testudo impressa Bourret, 1941
Đồng danh: Geochelone (Manouria) impressa Alderton, 1988
Tên khác: Rùa răng cưa
  • Độ cao so mặt nước biển 1800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RÙA NÚI VIỀN

Manouria impressa (Gunther, 1882)
Geoemyda latinuchalis Vaillant, 1894
Testudo pseudemys Boulenger, 1903
Testudo impressa Bourret, 1941
Geochelone (Manouria) impressa Alderton, 1988
Họ: Rùa cạn Testudinidae
Bộ: Rùa Testudinata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rùa cạn có kích thước trung bình, chiều dài mai khoảng 180 – 206 mm. Trên đầu có nhiều tấm sừng. Mai không gồ cao, những tấm vảy ở giữa mai phẳng. Phía trước và phía sau mai có những gai hình răng cưa nhọn và cong lên. Phía trước và sau yếm lõm sâu hình chữ V. Chân hình trụ, ngón chân không có màng da. Mai có những tấm vảy màu nâu nhạt, viền đen. Yếm màu vàng có các tia phóng xạ màu nâu sẫm.
Sinh học, sinh thái:
Rùa sống hoàn toàn trên cạn ở những khe rãnh, thung lũng ẩm ướt tới độ cao 1.500 m. Chúng hoạt động kiếm ăn vào buổi chiều, ban ngày trú trong các hang hốc. Rùa ăn các loại quả rụng, mầm cỏ, các loại nấm. Chúng đẻ từ tháng 5 đến tháng 9, có thể đẻ tới 17 trứng. Con non có mai màu vàng hoặc nâu nhạt, có gờ giữa lưng, mai có riềm răng cưa rất rõ. Cũng như các loài rùa nước ngọt khác, chúng có khả năng thụt đầu vào mai để tránh kẻ thù tự nhiên.
Phân bố:
Trong nước: Điện Biên (Mường Toong), Lai Châu (Chà Cang), Lào Cai (Sa Pa, Văn Bàn), Yên Bái (Văn Yên), Hà Giang (Vị Xuyên), Tuyên Quang (Na Hang), Sơn La (Mường Do, Mường Bang, Sốp Cộp), Thanh Hóa (Bến En), Nghệ An (Pù Mát, Pù Huống), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Vũ Quang), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng), Thừa Thiên Huế (A Lưới), Đà Nẵng (Sơn Trà, Bà Nà), Quảng Nam (Nam Giang), Kon Tum (Kon Plông, Chư Mom Ray), Lâm Đồng (Langbian), Bình Định (Vân Canh), Khánh Hòa (Hòn Bà)
Nước ngoài: Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Malaysia.
Giá trị:
Loài có giá trị khoa học, thẩm mỹ, giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu về tập tính sinh thái của loài này trong tự nhiên. Chúng còn được nuôi ở những nơi vui chơi, giải trí (vườn động vật).
Tình trạng:
Loài này ghi nhận ở một số tỉnh miền núi nên sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng; loài này rất hiếm gặp trong tự nhiên, là đối tượng bị săn bắt và buôn bán khá phổ biến làm thực phẩm, dược liệu và nuôi làm cảnh; quần thể bị suy giảm ước tính khoảng hơn 50% trong vòng hơn 60 năm qua.
Phân hạngEN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng. Cần quản lý các hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong vùng phân bố tự nhiên. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của ô nhiễm nguồn nước do con người đến sinh cảnh sống cũng như đến quần thể của loài. Có thể nhân nuôi sinh sản phục vụ mục đích bảo tồn. Loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên hạn chế được tác động và có tên trong Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Đã có hoạt động tái thả lại tự nhiên

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 256.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae