TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung - Phạm Văn Thông

Rùa núi vàng

Tên tiếng Anh: Elongated tortoise
Tên Latin: Indotestudo elongata
Đồng danh: Geochelone elongata (Blyth, 1853)
Đồng danh: Testudo elongata Blyth, 1854
Đồng danh: Testudo parallelus Annandale, 1913
Đồng danh: Indotestudo elongata (Blyth, 1835)
Tên khác: Rùa voi
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RÙA NÚI VÀNG

Indotestudo elongata (Blyth, 1835)
Geochelone elongata (Blyth, 1853)
Testudo elongata Blyth, 1854
Testudo parallelus Annandale, 1913
Họ: Rùa cạn Testudinidae
Bộ: Rùa Testudinata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rùa cạn có cơ thể cỡ trung bình, chiều dài mai khoảng 275 mm. Trên đầu có nhiều tấm sừng. Mai gồ cao, đôi khi hơi thắt ở giữa. Phía trước yếm phẳng, phía sau yếm lõm sâu. Con đực có đuôi dài, cứng, yếm lõm sâu; con cái có đuôi ngắn, mặt dưới yếm con cái phẳng và lõm ở con đực. Chân hình trụ, ngón chân không có màng da. Mai màu vàng, giữa mỗi tấm vảy có đốm đen.
Sinh học, sinh thái:
Rùa sống trong rừng nơi có những bụi cây thấp, ở độ cao tương đối thấp, không sống dưới nước như các loài rùa đầm và rùa nước ngọt khác. Ở miền Nam Việt Nam, về mùa khô, rùa có cá tính ngủ khô, chúng nằm lì trong bụi và không ăn. Sang mùa mưa mới ra hoạt động kiếm ăn. Thức ăn chủ yếu là thực vật: hoa quả, rau xanh, có thể ăn cả nấm, giun đất và ốc sên. Chúng đẻ trứng vào tháng 10 hoặc 11 hàng năm, đẻ từ 4 – 5 trứng, có kích thước 50/40 mm và có tập tính vùi trứng trong đất.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng, Tuyên Quang (Thanh Moi), Lạng Sơn (Hữu Lũng), Quảng Ninh, Bắc Giang (Lục Nam), Sơn La (Xuân Nha), Hòa Bình, Thanh Hóa (Bến En), Nghệ An (Pù Mát, Pù Huống), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Vũ Quang, Kỳ Anh), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng), Thừa Thiên Huế (A Lưới, Nam Đông), Quảng Nam (Phước Sơn, Nam Giang), Khánh Hòa (Nha Trang), Ninh Thuận (Ninh Hải), Kontum (Kon Plông), Đắk Lắc (Yok Đôn, Easo), Lâm Đồng (Đạ Tẻh), Đồng Nai (Cát Tiên, Vĩnh Cửu), Tây Ninh (Bà Đen).
Nước ngoài: Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Nam Trung Quốc, Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan, Maylaisia.
Giá trị:
Có giá trị khoa học, thẩm mỹ, giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu về tập tính sinh thái của loài này trong tự nhiên. Chúng còn được nuôi ở những nơi vui chơi, giải trí (vườn động vật).
Tình trạng:
Hiện nay số lượng ngoài tự nhiên giảm sút > 50% do săn bắt quá mức. Loài này được buôn bán và nuôi cảnh tràn lan nên bị săn bắt nhiều, hơn nữa sinh cảnh sống của chúng đang bị tàn phá do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng dẫn đến mất nguồn thực ăn tự nhiên.
Phân hạng: CR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh sống của loài đã và đang bị chia cắt và suy thoái nghiêm trọng do khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng, tác động của các hoạt động du lịch; quần thể suy giảm do bị săn bắt quá mức. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng. Cần quản lý các hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của ô nhiễm nguồn nước do con người đến sinh cảnh sống cũng như đến quần thể của loài. Nhân nuôi sinh sản phục vụ mục đích bảo tồn. Quản lý tốt các trang trại đăng ký gây nuôi loài này vì mục đích thương mại (TRAFFIC 2013).

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 256.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae