Rùa hộp lưng đen
| Tên tiếng Anh: | Amboina box turtle |
|---|---|
| Tên Latin: | Cuora amboinensis |
| Đồng danh: | Testudo fasciata Suckow, 1798 |
| Đồng danh: | Cistudo amboinensis Morice, 1875 |
| Đồng danh: | Testudo melanocephala Daudin, 1801 |
| Đồng danh: | Terrapene amboinensis Sowerby, 1872 |
| Tên khác: | Rùa hộp Amboina |
- Độ cao so mặt nước biển 400 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Châu Á Campuchia Thái Lan Malaysia Myanmar Đồng Nai Tây Ninh Hầu khắp các tỉnh Tây nguyên Việt Nam Hầu khắp các tỉnh miền Tây nam bộ
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rùa chỉ sống ở nước ngọt Sống ở dưới nước ngọt, đẻ trứng trên cạn Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố
- Tình trạng bảo tồn Nguy cấp EN: Endangered Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh
- Sinh thái Kiếm ăn ở môi trường nước ngọt Ăn các loài sinh vật thủy sinh sống trong khu vực phân bố
RÙA HỘP LƯNG ĐEN
Cuora amboinensis (Daudin, 1802)
Testudo fasciata Suckow, 1798
Cistudo amboinensis Morice, 1875
Testudo melanocephala Daudin, 1801
Terrapene amboinensis Sowerby, 1872
Họ: Rùa đầm Emydidae
Bộ: Rùa Testudinata
Đặc điểm nhận dạng:
Cỡ trung bình, mai dài khoảng 200mm. Mai phồng, nhẵn. Gờ sống lưng rõ. Yếm gồm hai mảnh cử động được, bờ sau yếm không khuyết. Mai màu xám đen; yếm màu trắng đục, bờ ngoài các tấm ở yếm có vết xám đen. Có 3 sọc màu vàng nhạt ở bên đầu: 1 sọc chạy dài từ mút mõm qua mí mắt trên tới cổ, 2 sọc khác chạy từ mũi qua ổ mắt tới cổ.
Sinh học, sinh thái:
Rùa sống ở các ao, đầm lầy, kênh rạch, suối, ruộng lúa ngập nước, nơi có nền đất mềm và nước chảy chậm. Thức ăn chủ yếu là cỏ và thực vật thuỷ sinh, đôi khi ăn cả tôm, giun đất. Chúng đẻ vào tháng 4 – 6, mỗi lần đẻ từ 2 – 5 trứng hình bầu dục, kích thước trứng 40 – 46/30 – 34mm.
Phân bố:
Trong nước: Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Long An, Kiên Giang, Cà Mau.
Nước ngoài: Campuchia, Thái Lan, Mianma, Lào, Malaysia, Indonesia, Philippin.
Giá trị:
Loài được nuôi ở những nơi vui chơi giải trí, vườn thú, nên chúng thường bị buôn bán làm vật nuôi cảnh ở Việt Nam và quốc tế. Có giá trị nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.
Tình trạng:
Số lượng đang bị giảm sút, ước tính > 20% do săn bắt triệt để. Một số nơi phân bố đã bị tuyệt diệt do săn bắn quá mức và sinh cảnh sống của chúng bị tàn phá.
Phân hạng: EN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm triệt để săn bắt. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.
Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 254.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Hồng quang
Tên tiếng Anh:Hongkong rose
Tên Latin:Rhodoleia championii
Khướu ngọc linh
Tên tiếng Anh:Golden - winged laughingthrush
Tên Latin:Trochalopteron ngoclinhense
Bách bộ
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Stemona tuberosa
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae