TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Quảng Trường

Rùa hộp việt nam

Tên tiếng Anh: Vietnamese three-striped box turtle
Tên Latin: Cuora cyclornata
Đồng danh: Cuora cyclornata annamitica Blanck et al., 2017
Đồng danh: Cuora cyclornata meieri Blanck, Mccord & Le Minh 2006
Đồng danh: Cuora cyclornata annamitica Blanck et al., 2017
Đồng danh: Cuora cyclornata meieri Blanck, Mccord & Le Minh 2006
Tên khác: Rùa hộp ba sọc việt
  • Độ cao so mặt nước biển 100 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RÙA HỘP VIỆT NAM

Cuora cyclornata Blanck, McCord & Le, 2006
Cuora cyclornata annamitica Blanck et al., 2017
Cuora cyclornata meieri Blanck, Mccord & Le Minh 2006
Họ: Rùa đầm Emydidae
Bộ: Rùa Testudinata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rùa nước ngọt có kích thước trung bình, chiều dài mai từ 170 – 200 mm. Mai hơi dẹp, bờ sau không có răng cưa. Trên mai có 3 gờ (1 gờ sống lưng, 2 gờ bên). Trán màu vàng, hai bên má có dải màu vàng chạy dọc ngang gáy. Yếm rùa gồm 2 mảnh cử động được, có thể khép kín vào mai, rùa có thể thụt đầu vào trong mai. Lưng màu nâu có 3 vạch màu xám đen chạy dọc theo 3 gờ trên mai. Yếm màu xám đen, viền yếm màu đỏ nâu.
Rùa hộp việt nam Cuora cyclornata trước đây trước đây ghi nhận ở Việt Nam và bị nhầm với Rùa hộp trung quốc Cuora trifasciata. Tuy nhiên, theo Blanck và các cộng sự năm 2007. Quần thể Cuora cyclornata  chỉ phân bố ở Việt Nam và Lào với 3 phân loài (subspecies) gồm Cuora cyclornata cyclornata, Cuora cyclornata annamitica  và Cuora cyclornata annamitica meieri) với những đặc điểm hình thái như sau:
Con cái của phân loài Cuora cyclornata cyclornata có thể có chiều dài mai lên tới 35 cm và trọng lượng lên tới 6 kg. Con cái của phân loài Cuora cyclornata annamitica và phân loài Cuora cyclornata meieri chỉ có thể có chiều dài mai 20 – 25 cm, nặng 1.4 – 3kg. Con đực thường nhỏ hơn, trọng lượng từ 600 đến 1.000 g. Đuôi dài và dày hơn con cái. Mai bóng mượt, không có gờ, hóp lại về phía lưng và hình thang ở góc nhìn từ chính diện. Màu nâu đỏ. Dạng tròn đến hơi bầu dục. Mai hơi cong vòm. Các bên sườn dốc thoai thoải. Mai có răng cưa. Tỉ lệ dài mai: rộng mai là 1:1.15 – 1.25 ở con cái, 1:1.30 – 1.35 ở con đực và 1:1.15 ở con non. Rộng mai lớn nhất ở các tấm viền 5/6 – 6/7 ở con cái, , 6/7 – 7/8 ở con đực và tấm thứ sáu ở con non. Các con cái có viền tròn hơn và vỏ hộp mai sâu hơn con đực. Các tấm mai xương sống (chính giữa) phẳng hơn về phía lưng. Các sọc tấm xương sống và sọc tấm bên mép phủ đến 20% chiều rộng mai. Thường rộng hơn, mở rộng hình mũi tên ngược ở phần trước của các tấm xương sống thứ 2 đến thứ 4, đôi lúc cũng có trên sọc tấm bên mép. Sọc tấm xương sống trải rộng đến phần trước của tấm thứ hai, đôi khi là giữa tấm thứ nhất nhưng không bao giờ chạm tấm đỉnh gáy. Tấm xương sống thứ 2 thường rộng hơn dài. Tấm đỉnh gáy rộng bằng dài. Yếm: Một đường viền màu cam phủ 30 – 95% các tấm yếm ngực, hẹp lại về phía rìa. Các tấm họng màu đen có đốm vàng dọc đường nối. Các tấm yếm chân trước màu vàng, có vằn ngang màu đen dọc rãnh nối tấm ngực và tấm chân. Hoa văn của yếm xếp theo kiểu cây nấm hóp xuống. Các tấm yếm rìa bụng màu cam. Các vệt đen kết thành các đốm đen, lớn, thon dài. Đầu có màu vàng ô liu phía sau, nâu cam ở giữa và xám ở mũi. Vệt sau mắt màu nâu ô liu hoặc nâu xám. Viền nâu sáng phía trên của sọc bên đầu không bao giờ chạm vào mặt lưng của đầu, nhưng trải rộng ra sau màng nhĩ. Sọc lưng bên sau đầu mảnh, màu ô liu và nhạt dần về phía sau đến hoa văn phần lưng của đầu. Mặt bên của đầu có màu cam. Cằm, hầu hết mặt bụng của cổ có màu cam. Con ngươi màu xanh lá cây ánh xanh lam.
Rùa hộp việt nam Cuora cyclornata khác Rùa hộp trung quốc Cuora trifasciata bởi mai lớn hơn, tròn hơn và phẳng hơn. Có một sọc trắng hoặc hồng đến cam ở họng (tùy thuộc vào phân loài) cũng như có hoa văn lưng màu ô lưu nâu cam và ít đốm đen hơn.
Sinh học, sinh thái:
Rùa sống ở ven các suối, các khe rãnh trong rừng vùng núi và trung du, phân bố tới độ cao 1.000m. Ban ngày, ẩn dưới những đám lá cây mục nát ven suối hoặc khe rãnh, tối mới ra kiếm mồi. Thức ăn là các loại động vật (côn trùng, tôm, cá, ốc,…); tuy nhiên, rùa còn ăn cả quả, rong bèo mọc ven suối; trong điều kiện nuôi còn ăn cả thịt, nội tạng động vật, chuối chín. Rùa sinh sản chủ yếu vào tháng 5 – 7, mỗi lần đẻ 2 trứng.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng, Bắc Kạn (Ba Bể), Lạng Sơn (Hữu Liên), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Bắc Giang (Sơn Động, Lục Nam), Thanh Hóa (Bến En), Nghệ An (Pù Mát, Pù Huống), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng), Quảng Trị (Đăk Rông, Hướng Hóa), Quảng Nam (Thăng Bình, Phước Sơn, Hiệp Đức, Trà My, Tiên Phước, Quế Sơn), Kon Tum (Đăk Glei), Gia Lai (K’Bang), Bình Định (Vĩnh Thạnh).
Nước ngoài: Nam Trung Quốc, Bắc Myanmar, Lào.
Giá trị:
Có giá trị khoa học, thẩm mỹ giúp học sinh sinh viên tìm hiểu về tập tính sinh thái của loài này trong tự nhiên. Chúng còn được nuôi ở những nơi vui chơi giải trí (vườn động vật).
Tình trạng:
Loài này bị săn bắt cạn kiệt phục vụ buôn bán, làm dược liệu và nuôi làm cảnh, một số tiểu quần thể có thể đã bị tuyệt chủng; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng, cháy rừng; loài này cực kỳ hiếm gặp trong tự nhiên; quần thể bị suy giảm ước tính hơn 80% trong vòng hơn 60 năm qua.
Phân hạngCR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong khu bảo tồn nên được bảo vệ. Loài này có tên trong Nghị định số 64/2019/NĐ-CP và Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Đề xuất quản lý chặt chẽ các hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản trái phép, xâm lấn đất rừng trong vùng phân bố của loài. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống cũng như đến quần thể của loài. Có thể nhân nuôi sinh sản để phục hồi quần thể.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 254.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae