TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rùa đất atripons

Tên tiếng Anh: Black - bridged leaf turtle
Tên Latin: Cyclemys atripons
Đồng danh: Cyclemys atripons Iverson & McCord, 1997
Đồng danh: Cyclemys atripons Iverson & McCord, 1997
Đồng danh: Cyclemys atripons Iverson & McCord, 1997
Đồng danh: Cyclemys atripons Iverson & McCord, 1997
Tên khác: Rùa đất phú quốc
  • Độ cao so mặt nước biển 300 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RÙA ĐẤT ATRIPONS

Cyclemys atripons Iverson & McCord, 1997
Họ: Rùa đầm Emydidae
Bộ: Rùa Testudinata

Đặc điểm nhận dạng:
Con trưởng thành có mai dài 149.5 – 159.9 mm ở con đực, 172.4 – 207.3 mm ở con cái. Con non có mai dài 117.8 mm. Mai hình trứng hoặc thon dài, có gờ sóng dọc thân trong đó gờ ở giữa phát triển nhất. Mép sau của mai có viền dạng răng cưa. Vỏ mai phẳng (chiều cao vỏ mai 50.5 – 50.6 mm ở con đực trưởng thành, 53.1 – 70.4 mm ở con cái trưởng thành, 40.9 mm ở con non). Yếm hình bầu dục và ngắn hơn mai (dài nhất của yếm 153.0 – 162.6 mm ở con đực trưởng thành, 169.3 – 198.3 mm ở con cái trưởng thành và 110.7 mm ở con non). Có một rãnh nối giữa hai tấm mảnh yếm (hyo – hypoplastral hinge). Khía chữ V của lỗ huyệt nhỏ, có góc nhọn hoặc góc tù. Đuôi hơn dày và ngắn, 34 mm ở con đực, 27.4 – 38.5 mm ở con cái. Mai rùa có màu từ ô liu đến nâu sáng, kèm hoa văn tỏa tia thấy rõ. Yếm màu kem, nâu vàng hoặc vàng sáng, có đốm đen ngắn (Các đường tia tỏa từ các góc mảnh yếm). Các tia tỏa trên đường nối của các rãnh yếm. Con non có nhiều tia ở trên các đường nối mảnh yếm hơn con trưởng thành. Có vài đốm sẫm nhỏ trên đỉnh đầu. Sọc vàng đến hồng da cam (như màu thịt cá hồi) trên vùng thái dương, cổ và mặt dưới của cổ. Con đực hơi nhẹ hơn con cái. Con đực nặng 530 g. Con cái nặng 955 g. Con non nặng 200 g.
Sinh học, sinh thái:
Rùa sống ở những ao, hồ, sông, dòng suối ẩm ướt, có các bụi rậm trong rừng thường xanh cây gỗ ở Vườn quốc gia Phú Quốc. Thức ăn chủ yếu động vật (giun đất, cá, tôm, cua) trong khu vực phân bố. Nuôi trong nhà dân chúng thích ăn cá và các loại rau. Đẻ trứng trên cạn vào tháng 6. Trước khi đẻ có tập tính bới đất, thảm mục thực vật để vùi trứng. Tề loài dược đặt theo nghĩa Latin “atri” = màu đen và “pons” = đỉnh đầu, ám chỉ đến phần này có sắc tố tối, đen.
Phân bố:
Trong nước: Loài mới ghi nhận ở Việt Nam năm 2020 Kiên Giang (Vườn quốc gia Phú Quốc).
Nước ngoài: Loài đặc hữu Đông dương và sống ở Thái Lan, Cambodia.
Giá trị:
Có giá trị khoa học, thẩm mỹ giúp học sinh sinh viên tìm hiểu về tập tính sinh thái của loài này trong tự nhiên.
Tình trạng:
Số lượng đang bị giảm sút, ước tính > 20% do săn bắt triệt để. Sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng, cháy rừng; loài này rất hiếm gặp trong tự nhiên, bị săn bắt cạn kiệt phục vụ buôn bán, nuôi làm cảnh; quần thể bị suy giảm ước tính cả trong quá khứ và dự báo trong tương lai.
Biện pháp bảo vệ:
Nghiêm cấm săn bắt, buôn bán. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae