Rùa cổ bự
| Tên tiếng Anh: | Black marsh turtle |
|---|---|
| Tên Latin: | Siebenrockiella crassicollis |
| Đồng danh: | Emys crassicollis Gray, 1831 |
| Đồng danh: | Emys nigra Blyth, 1856 |
| Đồng danh: | Pangshura cochinchinensis Tirant, 1885 |
| Đồng danh: | Kachuga cochinchinensis Bourret, 1927 |
| Tên khác: | Rùa đầm lầy đen |
- Độ cao so mặt nước biển 100 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Myanmar Đồng Nai Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Rừng phòng hộ đầu nguồn Tân Phú, Đồng Nai Hầu khắp Đông nam Á Hầu khắp các tỉnh ở Nam Bộ Vườn quốc gia U Minh Thượng, Việt Nam Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, Việt Nam
- Môi trường sống Dưới nước Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rùa chỉ sống ở nước ngọt Đất nông nghiệp và khu vực ngập nước Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố
RÙA CỔ BỰ
Siebenrockiella crassicollis (Gray, 1831)
Emys crassicollis Gray, 1831
Emys nigra Blyth, 1856
Pangshura cochinchinensis Tirant, 1885
Kachuga cochinchinensis Bourret, 1927
Họ: Rùa đầm Emydidae
Bộ: Rùa Testudinata
Đặc điểm nhận dạng:
Đầu sẫm màu có một khoang trắng hoặc phớt vàng về phía sau mỗi mắt. Đầu rộng có hàm cong (gần giống dạng cười). Cổ lớn và đầu không thụt hết vào trong mai. Mai màu đen tuyền, bóng, các tia mai mờ. Yếm màu nâu đen và có các chùm tia hình dẻ quạt màu đen hoặc yếm màu đen tuyền. Kích thước mai có thể đến 20cm. Những cá thể còn non có màu gần giống như các cá thể trưởng thành.
Sinh học, sinh thái:
Loài rùa nước ngọt này di chuyển chậm chạp và bơi lội kém linh hoạt, chúng thích những nơi nước lặng; cạn, đất trũng và có nhiều mầm thực vật. Thức ăn là loài ăn tạp, động vật không xương sống dưới các ao hồ có nền đáy xốp và có nhiều thực vật thuỷ sinh như sông, suối, ao, hồ, đầm lầy. Loài này thường được thu thập ở các đầm lầy và kênh rạch ở vùng Nam Bộ.
Phân bố:
Trong nước: Đồng Nai (Cát Tiên) và vùng Đông bằng sông Cửu Long: Kiên Giang (U Minh Thượng), Cà Mau (Năm Căn).
Nước ngoài: Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia.
Tình trạng:
Số lượng ít nên hiếm gặp. Loài nguy cấp ở Lào và đã được đưa vào sách đỏ của IUCN ở mức Vulnerable A1cd+2cd. Đây là loài phân bố hẹp ở các tỉnh miền Nam; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do thu hẹp diện tích đất ngập nước, ô nhiễm nguồn nước; loài này rất hiếm gặp trong tự nhiên, là đối tượng bị săn bắt cạn kiệt phục vụ buôn bán, làm dược liệu và nuôi làm cảnh; quần thể bị suy giảm ước tính khoảng hơn 50% trong vòng hơn 60 năm qua.
Phân hạng: EN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt, buôn bán. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bọ lá việt nam
Tên tiếng Anh:Viet Nam leaf insect
Tên Latin:Cryptophyllium bankoi
Gà lôi tía
Tên tiếng Anh:Temminck's tragopan
Tên Latin:Tragopan temminckii
Sa mu
Tên tiếng Anh:Chinese fir
Tên Latin:Cunninghamia lanceolata
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae