TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phạm V. Thông - Phùng M. Trung

Rùa bốn mắt

Tên tiếng Anh: Four-eyed turtle
Tên Latin: Sacalia quadriocellata
Đồng danh: Sacalia pseudocellata Iverson & Mccord, 1992
Đồng danh: Sacalia quadriocellata Schilde, 1999
Đồng danh: Sacalia pseudocellata Iverson & Mccord, 1992
Đồng danh: Sacalia quadriocellata Schilde, 1999
Tên khác: Rùa bốn mắt giả
  • Độ cao so mặt nước biển 700 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RÙA BỐN MẮT

Sacalia quadriocellata (Siebenrock, 1903)
Sacalia pseudocellata Iverson & Mccord, 1992
Sacalia quadriocellata Schilde, 1999
Họ: Rùa đầm Emydidae
Bộ: Rùa Testudinata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rùa đất có kích thước nhỏ, có mai dài, vòm, hẹp với một gờ nổi rất rõ ở sống lưng, mai thấp, viền mai nhẵn, kích thước mai khoảng 12 – 15 cm. Đầu nhỏ, thò thụt vào được, phần gáy có 2 hoặc 4 đốm vàng tươi hoặc màu trắng đục và có một chấm đen ở giữa. Cổ có 3 sọc màu trắng nhạt ở mỗi bên. Đuôi ngắn. Yếm màu nâu nhạt
Sinh học, sinh thái:
Loài rùa nước ngọt này sinh sống ở các ao, hồ suối trong các khu rừng thường xanh. Thức ăn của chúng được ghi nhận là các loài ốc, cua, tôm và các loài giáp xác nhỏ.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Văn Bàn, Bảo Hà), Hà Giang (Tây Côn Lĩnh), Tuyên Quang (Sơn Dương), Vĩnh Phúc (Tam Đảo, Mê Linh), Bắc Giang (Sơn Động), Hòa Bình (Mai Châu), Thanh Hóa (Bến En, Pù Hu, Xuân Liên), Nghệ An (Pù Mát, Pù Huống), Hà Tĩnh (Kỳ Anh, Vũ Quang), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng), Quảng Trị (Đăk Rông, Hướng Hóa), Thừa Thiên Huế (A Lưới), Quảng Nam (Phước Sơn), Bình Định (Vân Canh), Phú Yên (Tây Hòa), Khánh Hòa (Khánh Vĩnh).
Nước ngoài: Trung Quốc (phía Nam đảo Hải Nam), Lào (vùng núi phía Đông Bắc hoặc trung tâm khu vực Trường Sơn).
Giá trị:
Có giá trị khoa học, thẩm mỹ, giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu về tập tính sinh thái của loài này trong tự nhiên. Chúng còn được nuôi ở những nơi vui chơi, giải trí (vườn động vật).
Tình trạng:
Số lượng ít nên rất hiếm gặp. Loài này được đưa vào sách đỏ của IUCN ở mức Endangered A2cd. Loài này ghi nhận rải rác ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng; loài này rất hiếm gặp trong tự nhiên, là đối tượng bị săn bắt và buôn bán cạn kiệt làm thực phẩm, dược liệu và nuôi làm cảnh; quần thể ước tính bị suy giảm khoảng hơn 80% trong vòng 75 năm qua.
Phân hạngCR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu vực nơi có loài này phân bố. Thu một vài cá thể nuôi trong vườn thú để bảo tồn nguồn gen. Sinh cảnh sống có một phần nằm trong khu bảo tồn nên được bảo vệ. Loài này có tên trong Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae