TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rong hồng vân

Tên tiếng Anh: Gelatinus red algae
Tên Latin: Betaphycus gelatinus
Đồng danh: Fucus gelatinum Esper, 1800
Đồng danh: Sphaerococcus gelatinus (Esper) C. Agardh, 1822
Đồng danh: Gigartina gelatinosa Endlicher, 1843
Đồng danh: Eucheuma gelatinae (Esper) J.Agardh, 1847
Tên khác: Rong sụn galetin

RONG HỒNG VÂN

Betaphycus gelatinus (Esper) Doty ex P.C.Silva, 1996
Fucus gelatinum Esper, 1800
Sphaerococcus gelatinus (Esper) C. Agardh, 1822
Gigartina gelatinosa Endlicher, 1843
Eucheuma gelatinae (Esper) J.Agardh, 1847
Họ: Rong kỳ lân Solieriaceae
Bộ: Rong giga Gigartinales

Đặc điểm nhận dạng:
Tản rong mọc thành bụi bò sát vật bám và bám chắc trên đá, do bàn bám khá phát triển; tản rộng 10 – 15cm, chia nhánh không qui tắc. Các nhánh sát vật bám có nhiều mấu bám. Nhánh dẹt rộng 3 – 5 mm, hai bên mép có nhiều nhánh nhỏ dạng gai; phía mặt dưới nhánh dẹt có nhiều mụn, mặt trên nhẵn. Các nhánh cài quấn dính vào nhau làm thành búi như tấm phên (dề). Cắt ngang thân: phần lõi ở giữa gồm những tế bào dạng sợi nhỏ, vách dầy, sắp xếp dày đặc; phần biểu bì gồm 3 – 4 lớp tế bào nhỏ chứa sắc tố. Túi bào tử quả hình thành ở phía dưới các nhánh nhỏ dạng gai. Túi bào tử bốn cắt theo dạng bậc thang.
Sinh học, sinh thái:
Rong sống nhiều năm, phát triển tốt nhất từ tháng 3 đến tháng 6, tế bào sinh sản thành thục vào tháng 4 – 6; tuy nhiên dạng sinh sản dinh dưỡng chiếm ưu thế. Mọc từ vùng triều thấp đến phần trên của vùng dưới triều, trên đá san hô chết, nơi có sóng, nước trong, độ muối 28 – 31 %o , độ sâu 1 – 3m; thường tạo thành quần xã với rong khác như Sargassum spp, Caulerpa spp và cỏ bò biển Thalassia hemprichii.
Phân bố:
Trong nước: Thừa Thiên – Huế (Phú Lộc: Lộc Hải), Quảng Nam (Núi Thành), Quảng Ngãi (đảo Lí Sơn), Khánh Hoà (vịnh Cam Ranh, vịnh Nha Trang), Ninh Thuận (Ninh Hải: Nhơn Hải, Thái An, Mĩ Hòa, Mĩ Hiệp; vịnh Phan Rang; Ninh Phước: Vĩnh Tường).
Nước ngoài: Ấn Độ Dương, New Caledonia, New Zealand, Nhật Bản, Philippines, Trung Quốc.
Giá trị:
Nguyên liệu chế biến beta – , gamma – , kappa – , iotacarrageenan axit béo, protein, chất khoáng (I, N, tro, sulfate); các sắc tố (carotene, chlorophyll a, d, lutein, phycocyanin, phycoerythrin, zeaxanthin, đường (đơn, đa), tinh bột, funoran, furcellarin, galactan, mannitol thức ăn cho động vật, mồi câu cá; dược liệu (bệnh ho, chống khối u). Người dân biển có thói quen khai thác làm thực phẩm (nấu chè, thạch, làm bánh kẹo).
Tình trạng:
Loài này phân bố rải rác từ Thừa Thiên Huế đến Ninh Thuận. Sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp và suy thoái do các hoạt động san lấp và ô nhiễm vùng nước ven biển, loài bị khai thác quá mức để làm nguyên liệu chế biến thực phẩm. Kích cỡ quần thể ước tính suy giảm khoảng > 80 % trong vòng 20 năm qua.
Phân hạngCR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Bảo vệ sinh cảnh sống của loài, hạn chế san lấp và làm ô nhiễm vùng nước ven biển. Tổ chức khai thác hợp lí sau thời kì sinh sản, đúng mùa vụ (mùa xuân và đầu mùa hè). Tổ chức nuôi trồng, mở rộng diện tích phân bố, nhất là phát triển trồng trọt ở các tỉnh miền Trung từ Đà Nẵng trở vào phía Nam.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 547.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae