TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Thiên Tạo

Rắn voi

Tên tiếng Anh: Rhinoceros snake
Tên Latin: Rhynchophis boulengeri
Đồng danh: Rhynchophis boulengeri Mocquard, 1897
Đồng danh: Proboscidophis versicolor Fan, 1931
Đồng danh: Rhynchophis boulengeri Mocquard, 1897
Đồng danh: Proboscidophis versicolor Fan, 1931
Tên khác: Rắn mũi sừng tê giác
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN VOI

Rhynchophis boulengeri Mocquard, 1897
Rhynchophis boulengeri Mocquard, 1897
Proboscidophis versicolor Fan, 1931
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata 

Đặc điểm nhận dạng:
Con đực có chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 1283 mm, dài đuôi 347 mm. Con cái có số đo lần lượt là 1130 mm và 285 mm. Đầu tương đôi dài, nở rộng phía sau, phân biệt với cổ. Dài đầu 24.8 mm, rộng đầu 11.3 mm. Mõm nhọn, có vảy sừng nhô lên trên. Vảy má 1. Vảy trên mắt 1. Vảy dưới mắt 2. Vảy thái dương 2+3+3. Vảy môi trên 9 (xếp theo kiểu 3 – 3 – 3). Vảy môi dưới 11, trong đó 6 vảy trước nối với vảy cằm. Vảy cằm 2 cặp. Vảy lưng 19 – 19 – 15 hàng, đoạn giữa 3 – 17 hàng vảy có gờ. Vảy bụng 212. Vảy quanh lỗ huyệt 2. Vảy dưới đuôi 126 cặp. Sọc dưới vảy môi trên màu trắng. Mặt lưng màu xanh lá đậm, vảy có viền trắng hoặc đen hoặc đốm trắng. Mặt bên thân màu xanh lam, có một số vảy màu đen. Mặt bụng màu xanh lá nhạt, có sọc trắng men theo hai dãy vảy sừng hai bên thân đến đuôi.
Sinh học, sinh thái:
Là loài rắn độc nhẹ, nhưng không có nanh độc. Sống trên cây ở các khu rừng thường xanh ở độ cao trung bình. Thức ăn là những loài bò sát, lưỡng cư sống trong khu vực phân bố. Kiếm ăn ban đêm, ban ngày nghỉ ngơi trên cành cây. Tên loài được đặt theo tên của George Albert Boulenger (1858 – 1937), nhà nghiên cứu bò sát học tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Anh, London.
Phân bố:
Trong nước: Loài này chỉ gặp ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam (Hà Tĩnh, Vinh Phú, Bắc Kạn, Yên Bái, Quảng Bình).
Nước ngoài: Trung Quốc (Quảng Tây, đảo Hải Nam, Vân Nam).
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae