Rắn trun jody
| Tên tiếng Anh: | Jodi’s pipe snake |
|---|---|
| Tên Latin: | Cylindrophis jodiae |
| Đồng danh: | Anguis ruffa Laurenti, 1768 |
| Đồng danh: | Anguis striatus Gmelin, 1788 |
| Đồng danh: | Scytale schuechzeri Merrem, 1820 |
| Đồng danh: | Cylindrophis ruffus Laurenti, 1768 |
| Tên khác: | Rắn ống trun |
- Độ cao so mặt nước biển 400 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Trung Quốc Bình Dương Bình Phước Đồng Nai Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Hầu khắp các tỉnh miền Tây nam bộ Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, Việt Nam
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng bán ngập mặn Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Đất nông nghiệp và khu vực ngập nước Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Làm thực phẩm cho con người Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài bò sát kiếm ăn ban đêm Loài bò sát kiếm ăn ban ngày Ăn các loài sinh vật thủy sinh sống trong khu vực phân bố
RẮN TRUN JODY
Cylindrophis jodiae Amarasinghe et al., 2015
Anguis ruffa Laurenti, 1768
Anguis striatus Gmelin, 1788
Scytale schuechzeri Merrem, 1820
Cylindrophis ruffus Laurenti, 1768
Họ: Rắn trun Cylindrophiidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước trung bình. Chiều dài thân: 297 – 328 mm, chiều dài đuôi: 78 – 98 mm.Đầu dẹp, không phân biệt với cổ. Tấm mõm cao hơn rộng, thấy một phần từ phía trên, gần có hình tam giác, nhỏ, đỉnh ăn sâu vào đường tiếp giáp giữa hai tấm mũi. Lỗ mũi gần tròn, ở giữa tấm mũi nguyên. Không có tấm gian mũi, tấm má và tấm trước mắt; có 1 tấm sau mắt; tấm thái dương 1+2. Có 6 tấm mép trên, tấm thứ 3, 4 tiếp giáp mắt; 6 tấm mép dưới, 3 tấm đầu tiên chạm tấm sau cằm thứ nhất; 2 cặp tấm sau cằm, cặp thứ nhất dài và rộng hơn cặp thứ hai, cặp thứ hai phân cách nhau bởi 2 vảy nhỏ. Vảy thân 19 – 21(23) – 17(15) hàng nhẵn, đồng cỡ, mút vảy tròn, xếp thẳng hàng; 182 – 192 tấm bụng; 7 tấm dưới đuôi; tấm hậu môn chia. Mặt lưng màu xám đen, mỗi bên có 27 – 51 sọc thẳng đứng màu vàng nhạt, xếp so le hoặc có khi nối với nhau; chiều rộng sọc nhỏ hơn nhiều so với khoảng cách giữa chúng. Phía bên từ sườn tới bụng có một hàng từ 40 – 51 sọc, dày hơn, xếp so le, có khi nối với sọc trên lưng hoặc liền nhau ở mặt bụng. Trên đầu xám đen. Họng và môi trên, môi dưới có những vết màu vàng nhạt.
Cylindrophis jodiae khác biệt với tất cả các loài cùng giống bởi các đặc điểm sau:
Cylindrophis jodiae có 21 hàng vảy giữa thân so với 17 hàng vảy giữa thân ở Cylindrophis engkariensis.
Cylindrophis jodiae có 21 hàng vảy giữa thân so với 19 hàng vảy giữa thân ở Cylindrophis boulengeri, Cylindrophis burmanus, Cylindrophis melanotus, Cylindrophis ruffus
Cylindrophis jodiae có 21 hàng vảy giữa thân so với 23 ở Cylindrophis aruensis, Cylindrophis opisthorhodus), 182 – 196 vảy bụng (so với 217 – 225 ở Cylindrophis isolepis, dải rộng và gián đoạn trên lưng (so với sọc bên và sọc giữa lưng dọc theo cơ thể ở Cylindrophis lineatus; hai dãy các đốm lớn màu nâu đỏ dọc theo lưng, được bao bọc bởi mạng lưới đen ở Cylindrophis maculatus; không có dải và lưng nhạt hơn ở Cylindrophis yamdena).
Sinh học, sinh thái:
Kiếm ăn ban ngày, xuất hiện ở các khu vực rừng đầm lầy, lau sậy, ven sông, suối và các khu vực đất nông nghiệp có nước. Thức ăn là các loài lươn, cá, ếch nhái sống trong khu vực sinh sống. Đẻ trừng vào tháng mùa mưa hằng năm.
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp các tỉnh Nam bộ từ Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước đến Cà Mau. Loài này trước đây bị nhầm với Cylindrophis ruffus và mới phát hiện và công bố năm 2015 sau khi đã phân tích sinh học phân tử và hình thái. Loài mới được vinh danh nhà nghiên cứu Lưỡng cư người Úc, tiến sỹ Jodi J. L. Rowley thuộc Viện bảo tàng Australia vì những đóng góp của bà trong các nghiên cứu và phát hiện nhiều loài mới ở Việt Nam.
Nước ngoài: Thái Lan, Trung Quốc
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì các vùng đất ngập nước, đất nông nghiệp bị sử dụng quá nhiều các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Hoàng Ngọc Thảo, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
Mô tả loài: Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Rắn rồng cổ đen
Tên tiếng Anh:Common many-tooth snake
Tên Latin:Sibynophis collaris
Bướm dải trắng chóp cam
Tên tiếng Anh:Colour sergeant
Tên Latin:Athyma nefte
Thằn lằn tai nam bộ
Tên tiếng Anh:Cochinchinese water skink
Tên Latin:Tropidophorus cocincinensis
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae