TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn sọc vàng

Tên tiếng Anh: Yellow striped snake
Tên Latin: Coelognathus flavolineatus
Đồng danh: Coluber flavolineatus Schlegel, 1837
Đồng danh: Compsosoma melanurum Dumerill et al., 1854
Đồng danh: Spilotes melanurus Gunther, 1858
Đồng danh: Orthriophis flavolineata Auliya, 2006
Tên khác: Rắn ráo sọc vàng
  • Độ cao so mặt nước biển 500 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN SỌC VÀNG

Coelognathus flavolineatus Schlegel, 1837
Coluber flavolineatus Schlegel, 1837
Compsosoma melanurum Dumerill et al., 1854
Spilotes melanurus Gunther, 1858
Orthriophis flavolineata Auliya, 2006
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata 

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước lớn con trưởng thành dài đến 2,2m. Đầu hẹp. Mõm dài gấp hai lần mắt. Mắt lớn có đồng tử tròn. Má dài hơi nhỉnh hơn cao. Mắt có 1 vảy trước và 2 vảy sau. Vảy thái dương 2+2. Vảy lưng kết sừng nhẹ, công thức hàng vảy 19:19:17. Vảy môi trên 8 – 11, trong đó vảy thứ 4 và 6 chạm mắt, vảy thứ 6 nối với thái dương. Vảy môi dưới 10, trong đó vảy thứ 4 đến 6 nối với cặp vảy má. Vảy bụng 193 – 242 nhọn góc mạnh phía mặt bên. Vảy dưới đuôi 80 – 116, kết cặp. Vảy huyệt nguyên. Mặt lưng màu vàng sáng chạy dọc phần giữa thân và có vài sọc trắng đen quanh thân. Càng về nửa sau của thân, sọc này này càng mờ. Phía sau thân màu nâu đậm hơn. Vùng chẩm không có đen. Dưới mắt có vệt đen nhạt. Có một đường sọc xiên từ mắt đến trên sau mõm và sọc khác dọc cổ. Bụng màu kem nhạt. Đuôi đen phía trên, xám đen phía dưới.
Sinh học, sinh thái:
Loài rắn này thường sống ở gần những trang trại của nông dân. Chúng thường vào nhà dân để săn trứng gà và chuột. Đôi lúc thấy chúng trườn lên mái nhà gỗ. Thức ăn trong tự nhiên của chúng là thú gặm nhấm nhỏ, chim, ếch nhái, thằn lằn. Một lần con cái đẻ 5 – 12 trứng. Con đực dài đến 1.8 m
Phân bố:
Trong nước: Lâm Đồng, Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên, Thác Mai), Bình Phước (Vườn quốc gia Bù Gia Mập)
Nước ngoài: Đảo Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Ấn Độ (Quần đảo Andaman) Indonesia (Simalur, Billiton, Borneo, Sulawesi, Bangka, Belitung, Java, Kalimantan, Quần đảo Mentawai, Nias, Quần đảo Riau, Simeuleue, Sumatra, We, Bali); Vương quốc Bru-nây; Malaysia (Malaya và Đông Malaysia, Pulau Pangkor, Pulau Tioman), Myanmar.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận ở 4 địa điểm ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; sinh cảnh sống bị suy thoái do tác động việc khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng; loài rắn này cũng là đối tượng bị săn bắt để làm thực phẩm, dược liệu và buôn bán, các nhân tố tác động này hiện vẫn tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến quần thể của chúng.
Phân hạng: NT A2ad.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên hạn chế được tác động. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác đá, xâm lấm đất rừng và hoạt động du lịch. Cần quản lý các hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống cũng như đến quần thể của loài.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae