TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Hồ Thu Cục - Nguyễn Thiên Tạo

Rắn sọc quan

Tên tiếng Anh: Mandarin ratsnakes
Tên Latin: Euprepiophis mandarinus
Đồng danh: Coluber mandarinus Cantor, 1842
Đồng danh: Ablabes pavo Annandale, 1912
Đồng danh: Holarchus roulei Angel & Bourret, 1933
Đồng danh: Elaphe mandarinus Pope, 1935
Tên khác: Rắn chuột mandarin
  • Độ cao so mặt nước biển 1600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN SỌC QUAN

Euprepiophis mandarinus (Cantor, 1842)
Coluber mandarinus Cantor, 1842
Ablabes pavo Annandale, 1912
Holarchus roulei Angel & Bourret, 1933
Elaphe mandarinus Pope, 1935
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn có kích thước trung bình dài khoảng 1m. Thân mập. Đầu ngắn và hơi phân biệt với cổ. Mõm tù. Đuôi ngắn và tù. Mắt nhỏ, có đồng tử tròn. Vảy lưng mịn. vảy huyệt phân chia. Con cái có chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 297.5 mm, dài đuôi 66.2 mm. Dài đầu 15.1 mm. Rộng đầu 10.4 mm. Đường kính ngang của mắt 3.2 mm. Khoảng cách mắt mũi 3 mm. Rộng mõm 4.3 mm. Vảy bụng 212. Vảy dưới đuôi 77. Vảy lưng 23 – 23 – 23 hàng. Vảy thái dương 2 (trái) + 3 (phải). Vảy môi trên 8 trong đó vảy thứ 4 và 5 chạm mắt. Vảy môi dưới 8. Không có vảy má. Vảy sau mắt 2. Vảy trước trán 2 Là loài rắn lớn, có đốm vàng hình bầu dục, viền có đen ở lưng và và đuôi. Các vảy bên thân màu xám đục, lẫn với các vảy lưng màu vàng. Trán có vạch chữ V màu đen và đốm vàng giữa chẩm. Bụng màu xanh vàng, có vệt ngang màu đen rộng, nằm ngang so le với nhau.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở trong rừng bên bờ suối hoặc trong bãi cỏ trên đồi, núi. ăn chủ yếu gặm nhấm, thằn lằn. Đẻ khoảng 5 – 10 trứng. Trứng thuôn dài có vỏ dai màu trắng.
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu, Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên), Tuyên Quang (Na Hang, Chạm Chu), Lạng Sơn (Mẫu Sơn), Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), Sơn La (Tả Sùa, Xuân Nha, Sốp Cộp, Thuận Châu), Hà Tĩnh (Hương Sơn), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng), Kontum (Ngọc Linh), Đăk Lăk (Chư Yang Sin).
Nước ngoài: Ấn Độ, Trung Quốc (Đài Loan), Myanmar, Lào.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận ở khu vực rừng thường xanh thuộc một số tỉnh ở miền Bắc và Tây Nguyên; số địa điểm ghi nhận phân bố ở Việt Nam là 10; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng; loài này khá hiếm gặp trong tự nhiên, là đối tượng bị săn bắt và buôn bán làm thực phẩm, số ít được nuôi làm cảnh; quần thể bị suy giảm ước tính khoảng gần 30% trong vòng 10 năm qua.
Phân hạng: NT A2ad.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên hạn chế được tác động. Nhưng vẫn cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác đá, xâm lấm đất rừng và hoạt động du lịch. Cần quản lý các hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống cũng như đến quần thể của loài.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 240

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae