TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn sọc đuôi

Tên tiếng Anh: Blue beauty ratsnake
Tên Latin: Elaphe taeniura
Đồng danh: Elaphis yunnanensis Anderson, 1879
Đồng danh: Coluber taeniurus Boulenger, 1890
Đồng danh: Orthriophis taeniurus Das, 2023
Đồng danh: Compsosoma leopardum Anderson, 1870
Tên khác:
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN SỌC ĐUÔI

Elaphe taeniura Cope, 1861
Elaphis yunnanensis Anderson, 1879
Coluber taeniurus Boulenger, 1890
Orthriophis taeniurus Das, 2023
Compsosoma leopardum Anderson, 1870
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước lớn, chiều dài cơ thể đến 2m. Đầu dài, phân biệt rõ với cổ. Mắt cỡ trung bình, con ngươi tròn. Môi trên có 9 vảy, cò 2 vảy tiếp giáp với mắt. Vảy bao quanh phần giữa thân gồm 23 hàng, có gờ rõ ở lưng và mờ dần xuống bụng. Vảy hậu môn chia hai và những vảy ở dưới đuôi xếp thành hai hàng. Đầu xám, có một vệt xán chạy từ mắt qua thái dương tới mép. Mõm và môi trên xám nâu nhạt. Cằm và họng trắng đục. Nửa thân phía trước có 4 hàng đốm to và xám đen, những đốm ở 2 hàng trên lưng gần đầu nới với nhau tạo thành hình gần giống chữ H, ở gần giữa lưng mỗi đốm có chấm sáng ở giữa và mờ dần về phía cuối thân. Cuối thân có 2 sọc xám nâu to đứt đoạn bởi sọc sáng chạy từ lưng tới bụng ở hai bên, một sọc xám khá to ở giữa lưng. Đuôi có 4 sọc xám đen, to xem giữa 4 sọc trắng đục mà 2 sọc ở bụng nhạt hơn 2 sọc ở lưng. Loài này có nhiều phân loài và màu sắc khác nhau từ vàng, trắng, trắng xám tuỳ theo vùng phân bố.
Về phân loài của Elaphe taeniura có nhiều tranh cãi và phạm vi vùng phân bố của từng loài. David & Vogel (1996) đã công nhận giá trị của tám phân loài của loài này.
Sinh học, sinh thái:
Thường sống ở bìa rừng, khu vực rừng thường xanh còn tốt ở độ cao đến 1.500m. Thức ăn chủ yếu là các loài lưỡng cư và thú gặm nhấm nhỏ. Khi bị kích động chúng khá hung dữ nhưng là loài rắn hoàn toàn không độc.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên), Sơn La (Mộc Châu, Thuận Châu, Mai Sơn, Phù Yên, Bắc Yên, thành phố Sơn La), Cao Bằng (Cao Bằng, Nguyên Bình), Bắc Kạn (Vườn quốc gia Ba Bể), Thái Nguyên, Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), Hải Dương (Chí Linh), Hà Tĩnh (Cẩm Xuyên), Quảng Bình (Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng), Thừa Thiên Huế (A Lưới, Vườn quốc gia Bạch Mã), Kontum (Sa Thầy, Ngọc Linh), Gia Lai (K’Bang).
Nước ngoài: Ấn Độ (Darjeeling, Assam, Bengal, Sikkim, Mizoram, Arunachal Pradesh), Bhutan, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Hàn Quốc, Myanmar, Tây Malaysia, Trung Quốc (hầu hết Trung Quốc, bao gồm Phúc Kiến, nhưng không được ghi nhận từ Đông Bắc hoặc Tây Trung Quốc), Đài Loan, Indonesia (Borneo, Sumatra)
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này có vùng phân bố khá rộng từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên, tuy nhiên, không phổ biến; rắn sọc đuôi là đối tượng bị săn bắt và buôn bán làm thực phẩm và dược liệu; quần thể bị suy giảm ước tính khoảng hơn 30% trong vòng 10 năm qua.
Phân hạng: VU A2d.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các VQG Hoàng Liên và Tam Đảo nên hạn chế được tác động. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng và du lịch.

Mô tả loài: Phạm Thế Cường, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae