TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn sọc dưa

Tên tiếng Anh: Radiated ratsnakes
Tên Latin: Coelognathus radiatus
Đồng danh: Coluber radiatus Boie, 1827
Đồng danh: Tropidonotus quinque Cantor, 1839
Đồng danh: Elaphis radiatus Dumeril, 1853
Đồng danh: Plagiodon radiata Dumeril, 1853
Tên khác: Rắn săn chuột sọc dưa
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN SỌC DƯA

Coelognathus radiatus (Boie, 1827)
Coluber radiatus Boie, 1827
Tropidonotus quinque Cantor, 1839
Elaphis radiatus Dumeril, 1853
Plagiodon radiata Dumeril, 1853
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn lành, cỡ lớn trong họ Rắn nước Colubridae, dài tới 2 m, Đầu tương đối nhỏ thuôn dài, màu nâu xám phân biệt rõ với cổ. Lưng có màu nâu xám, có bốn đường màu đen chạy từ gáy xuống tới quá nửa thân, hai đường giữa to chạy dài liên tục, hai đường bên cạnh nhỏ hơn và đứt đoạn. Có một đường chạy ngang qua gáy. Từ mắt có ba đường đen nhỏ, hai đường chạy xiên xuống môi trên còn một đường qua thái dương nối với vòng đen ở gáy.
Sinh học, sinh thái:
Loài rắn không độc sống trên cạn, song rất dữ, dễ bị kích thích, thường gặp ở đồng bằng và trung du, thường ẩn trong các hang chuột đã bỏ không, leo trèo giỏi trên các bờ rào, bụi cây um tùm, đôi khi trên mái nhà tranh. Khi gặp nguy hiểm có tập tính tự vệ đặc biệt. Dựng đứng một phần ba thân về phía trước lên khỏi mặt đất. Phần thân sau không cuộn tròn mà làm thành hình chữ S trên mặt đất. Cổ phình to theo chiều trước sau làm da cổ căng rộng để lộ rõ màu vàng và đen ở da giữa các vảy cổ. Miệng há rộng, hung hăng, doạ nạt, dữ tợn như tập tính của Rắn ráo hoặc Rắn hổ trâu khi chuẩn bị cắn vào kẻ thù. Bắt mồi cả vào ban ngày và ban đêm. Có tập tính săn đuổi mồi. Mồi chủ yếu là chuột, ngoài ra có cả thằn lằn và ếch nhái, đôi khi ăn cả cá và chim non. Đẻ trứng từ tháng 5 – 7, khoảng từ 5 – 12 trứng trong bụi cây hoặc trên lá khô và có tập tính canh trứng. Ở miền Bắc Việt Nam Rắn sọc dưa có tập tính trú đông trong hang chuột bỏ trống từ cuối tháng 11 đến khoảng giữa tháng 3.
Phân bố:
Trong nước: Phân bố hầu khắp đồng bằng và trung du ở nước ta.
Nước ngoài: Ấn Độ, Bangladesh, Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia, Malaysia, Singapore, Indonesia.
Giá trị:
Là loài rắn có hoa văn rất đẹp, không có độc nên chúng thường bị buôn bán làm vật nuôi cảnh ở Việt Nam và quốc tế. Loài hiếm gặp cần được bảo vệ trong sinh cảnh tự nhiên của chúng.
Tình trạng:
Loài này có vùng phân bố khá rộng từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên, tuy nhiên, không phổ biến; rắn sọc đuôi là đối tượng bị săn bắt và buôn bán làm thực phẩm và dược liệu; quần thể bị suy giảm ước tính khoảng hơn 30% trong vòng 10 năm qua.
Phân hạng: NT A2d.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các VQG Hoàng Liên và Tam Đảo nên hạn chế được tác động. Nhưng cũng rất cần bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng và du lịch.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 242.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae