TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Thiên Tạo

Rắn sọc đốm tím

Tên tiếng Anh: Bella ratsnake
Tên Latin: Archelaphe bella
Đồng danh: Coronella bella Stanley, 1917
Đồng danh: Coluber leonardi Wall, 1921
Đồng danh: Elaphe bella Nguyen, Ho & Nguyen, 2009
Đồng danh: Maculophis bellus Orlov et al., 2010
Tên khác: Rắn săn chuột bella
  • Độ cao so mặt nước biển 3000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN SỌC ĐỐM TÍM

Archelaphe bella (Stanley, 1917)
Coronella bella Stanley, 1917
Coluber leonardi Wall, 1921
Elaphe bella Nguyen, Ho & Nguyen, 2009
Maculophis bellus Orlov, Ryabov, Nguyen & Nguyen, 2010
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Hai cá thể cái. Dài tổng 836 mm và 931 mm. Dài mút mõm đến lỗ huyệt 713mm và 796 mm; Dài đuôi 123 mm và 135 mm; Vảy bụng 209 và 211; vảy dưới đuôi 53 và 54 cặp; Lỗ huyệt cả hai đều chia thuỳ 1 – 1. Cả hai đều có hàng vảy lưng ở thân có 19 hàng ở ngấn vảy bụng thứ 15 tính từ đầu, 19 hàng ở giữa thân, 17 hàng ở ngấn của vảy bụng thứ 15 tính từ lỗ huyệt. Vảy môi trên là 6 – 6 và 7 – 7 (vảy thứ ba và thứ tư chạm mắt). Vảy môi dưới đều là 9 – 9. Mỏ rất lớn, rộng và cao, nhìn rõ từ trên. Không có vảy má. Cả hai đều có 1 vảy mắt trên, 1 vảy mắt dưới, 2 vảy sau mắt. Mũi hai lỗ, lớn, nằm giữa phần trước và sau mũi, phần trước mũi nối với mỏ, gian mũi và vảy đầu tiên của môi trên, phần sau mũi nối với vảy trước trán, gian mũi, trước ổ mắt, vảy môi trên thứ nhất và thứ hai. Gian mũi rộng hơn dài. Cặp vảy trước trán cùng hình dạng và kích thước với vảy gian mũi, rộng hơn dài. Cằm rất lớn, rộng hơn dài. Vảy mắt trên đơn, rất lớn, ngắn hơn chiều dài vảy trán. Vảy trán rộng, hình lục giác, dài hơn rộng. Vảy chẩm lớn, rộng. Vảy trước thái dương 2. Vảy sau thái dương 2. Màu khi sống: Cá thể non có màu đỏ tươi. Thân của cá thể trưởng thành có màu nâu đỏ, có 27 – 29 vết thâm đen ô – liu, ngang (vết đốm này có màu vàng viền đen ở rắn non), một vài vết hình chữ E ở vùng dưới mặt bên và viền đen đến vảy bụng thường bị gián đoạn bởi đốm đen. Vùng mỏ, má có màu vàng. Mặt lưng của đầu có hoa văn màu vàng, viền đen, hình chữ V, từ trên mắt đến cổ, trán thường có sọc vàng ở giữa.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở các khu rừng thường xanh núi cao và có khí hậu mát mẻ ở độ cao từ 1.000 đến 3.000m. Kiếm ăn đêm ở các khu vực bờ suối, nơi có nguồn nước. Thức ăn là những loài bò sát, lưỡng cư sống trong khu vực phân bố. Loài rắn lành có màu sắc, hoa văn rất đẹp.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên), Lạng Sơn, Bắc Kạn (Vườn quốc gia Ba Bể), Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), Hà Tĩnh (Vườn quốc gia Vũ Quang).
Nước ngoài: Trung Quốc (Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Vân Nam), Myanmar (Kachin), Ấn Độ (Assam, Nagaland).
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận ở khu vực rừng thường xanh thuộc các tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc và Hà Tĩnh; diện tích vùng cư trú (AOO) ước tính < 2.000 km2, số địa điểm ghi nhận phân bố ở Việt Nam là 4, kích cỡ các tiểu quần thể nhỏ, rất hiếm gặp; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng và phát triển du lịch.
Phân hạng: NT B2ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các VQG Hoàng Liên và Tam Đảo nên hạn chế được tác động. Tuy nhiện việc bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên là rất cần thiết, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng và du lịch.

Mô tả loài: Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae