Rắn sọc đốm đỏ
| Tên tiếng Anh: | Red bamboo snake |
|---|---|
| Tên Latin: | Oreocryptophis porphyraceus |
| Đồng danh: | Oreophis porphyracea (Cantor, 1834) |
| Đồng danh: | Coluber porphyraceus Cantor, 1839 |
| Đồng danh: | Oreophis porphyracea (Cantor, 1834) |
| Đồng danh: | Coluber porphyraceus Cantor, 1839 |
| Tên khác: | Rắn tre đỏ |
- Độ cao so mặt nước biển 2500 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Ấn Độ Trung Quốc Lâm Đồng Quảng Bình Hầu khắp Đông nam Á Nepal Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Việt Nam Khu bảo tồn loài – sinh cảnh Mẫu Sơn, Lạng Sơn
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng núi đá vôi Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
RẮN SỌC ĐỐM ĐỎ
Oreocryptophis porphyraceus (Cantor, 1839)
Oreophis porphyracea (Cantor, 1834)
Coluber porphyraceus Cantor, 1839
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Rắn lành dài khoảng 1m. Đầu phân biệt với cổ. Lưng màu đỏ nâu có hai đường mảnh màu đen chạy từ sau mắt tới mút đuôi. Chính giữa đầu có một vết hơi đậm màu đen chạy từ gần mõm đến hết đỉnh đầu. Trên lưng có một hàng những vết lớn có màu đỏ nâu viền đen. Những vết đó càng về phía sau cơ thể càng mờ dần. Mặt bụng có màu vàng nhạt. Cá thể cái lớn hơn cá thể đực đôi chút.
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường sống ở bìa rừng dọc theo các sông suối thuộc vùng núi, bờ đường dọc theo sông suối, ở đất trồng trọt trung du và miền núi. Ưa hoạt động vào sáng sớm hoặc hoàng hôn. Thức ăn chủ yếu là các loài lưỡng cư và thú gặm nhấm nhỏ. Đẻ khoảng 2 – 7 trứng. Trứng thuôn dài có vỏ dai màu trắng.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên), Cao Bằng (Nguyên Bình), Bắc Kạn (Chợ Mới, Chợ Đồn), Lạng Sơn (Mẫu Sơn), Thái Nguyên (Võ Nhai), Vĩnh Phúc (Vườn quốc giaTam Đảo), Sơn La (Vân Hồ, Thuận Châu), Quảng Bình (Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Động Châu), Lâm Đồng (Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà).
Nước ngoài: Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận ở khu vực rừng thường xanh từ Lào Cai vào đến Quảng Bình; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng và phát triển du lịch; loài này khá hiếm gặp trong tự nhiên, do có màu sắc đẹp nên là đối tượng bị săn bắt và buôn bán để nuôi làm cảnh, một số ít bị săn bắt làm thực phẩm và dược liệu; quần thể của loài bị suy giảm ước tính khoảng 20% trong vòng 10 năm qua.
Phân hạng: NT A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên hạn chế được tác động. Tuy nhiên việc bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên rất quan trọng, giảm thiểu tác động của việc khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng và các hoạt động du lịch. Cần quản lý hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống cũng như đến quần thể của loài.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 241
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Cóc núi
Tên tiếng Anh:Mountain toad
Tên Latin:Ophryophryne pachyproctus
Bọ ngựa cánh đốm
Tên tiếng Anh:Spotted-winged praying mantis
Tên Latin:Eomantis guttatipennis
Cóc mày sung
Tên tiếng Anh:Sung toad
Tên Latin:Leptolalax sungi
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae