TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn séc be

Tên tiếng Anh: Southeast asian bockadam
Tên Latin: Cerberus schneiderii
Đồng danh: Elaps boaeformis Schneider, 1801
Đồng danh: Hurria schneideriana Daudin, 1803
Đồng danh: Coluber schneiderianus Daudin, 1803
Đồng danh: Homalopsis molurus . Boie, 1826
Tên khác: Rắn cây nước lợ
  • Độ cao so mặt nước biển 50 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN SÉC BE

Cerberus schneiderii (Schlegel, 1837)
Elaps boaeformis Schneider, 1801
Hurria schneideriana Daudin, 1803
Coluber schneiderianus Daudin, 1803
Homalopsis molurus H. Boie, 1826
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Con đực lớn nhất có tổng chiều dài 777 mm, trong đó đuôi dài 135 mm. Con cái lớn nhất có tổng chiều dài 886 mm, dài đuôi 124 mm. Đầu thon dài, phân biệt với cổ và hóp. Mắt hơi nhô lên phía mặt lưng. Vảy lưng có gờ mạnh, xếp thành 23 – 25 – 19 hàng. Vảy bụng 142 – 150. Vảy dưới đuôi 55 – 60, phân chia. Vảy môi trên 9 (không chạm mắt). Vảy môi dưới 10 (1 – 6 nối với tấm vảy cằm). Vảy trước mắt 1. Vảy sau mắt 1. Vảy dưới mắt 2. Vảy huyệt phân chia. Vảy má 1. Mặt lưng màu xám có vằn ngang màu đen. Bụng màu xám, có hoa văn lẫn lộn đen trắng.
Loài Cerberus schneiderii khác với các loài cùng Giống Cerberus ở các đặc điểm sau:
Cerberus schneiderii có 25 (hiếm khi 23) hàng vảy giữa thân, có hai vảy phân chia. Các vảy xếp lợp trên đỉnh mỏng và phẳng và có gờ ở phía trước đến góc hàm. Hai vảy môi trên cuối cùng phân chia theo hướng ngang. Bụng có đốm.
Loài Cerberus australis có 23 hàng vảy giữa thân. Vảy môi trên đầu tiên không chạm vảy má.
Loài Cerberus dunsoni có 23 hàng vảy giữa thân, các vảy tròn xếp liền kề trên đỉnh, và có bụng đều màu đen.
Loài Cerberus rhynchops có 23 hàng vảy giữa thân (hiếm khi 21 hoặc 25), vảy môi trên cuối cùng phân chia theo chiều ngang.
Sinh học, sinh thái:
Rắn này sống trên các cây thuộc họ Đước Rhizophoraceae, các cửa sông nước lợ và thỉnh thoảng ở các vùng nước lợ xa đất liền. Thức ăn chính của loài này là cá, lưỡng cư. Đẻ con trứng, mỗi lứa đẻ từ 8 – 26 rắn con có chiều dài từ 17 đến 25 cm và trông giống rắn trưởng thành.
Phân bố:
Trong nước: Khánh Hoà (Ninh Hoà), Bà Ria – Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang (Hà Tiên), Cà Mau (Năm Căn, U Minh).
Nước ngoài: Phân bố ở hầu hết các vùng ven biển thuộc châu Á nhiệt đới từ Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Philippin đến Austrilia
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loàiNguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường, Nguyễn Thiên Tạo – WedAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae