TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phạm Thế Cường

Rắn sãi andre

Tên tiếng Anh: Andrea’s Keelback
Tên Latin: Hebius andreae
Đồng danh: Amphiesma andreae David et al., 2007
Đồng danh: Amphiesma andreae David et al., 2007
Đồng danh: Amphiesma andreae David et al., 2007
Đồng danh: Amphiesma andreae David et al., 2007
Tên khác: Rắn sãi sọc vàng
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN SÃI ANDRE

Hebius andreae (Ziegler & Le Khac Quyet, 2006)
Amphiesma andreae David et al., 2007
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata 

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước nhỏ, thân và đuôi mảnh. Đuôi hình trụ, chót nhọn. Đường kính mắt nếu nhô ra trước chạm vào đường giáp vảy đầu tiên và thứ hai của môi trên. 1 vảy má. 1 vảy trước mắt. 3 vảy sau mắt. Một vảy trước được theo sau bởi một vảy sau thái dương. 9 vảy môi trên, trong đó vảy thứ tư đến thứ sáu chạm mắt, vảy thứ tám lớn nhất. 9 vảy môi dưới, trong đó cặp đầu tiên nối với cằm. vảy sau cằm dài hơn trước cằm, tách biệt nhau bằng vảy họng. 179 vảy bụng (+ 2 vảy trước bụng). Vảy huyệt chia đôi. 99 vảy dưới đuôi, phân chia. Vảy lưng 19 – 19 – 17 hàng vảy có gờ (ngoại trừ hàng vảy ngoài cùng trước thân). Răng hàm trên 34, sắp xếp thành dãy liên tục, hai cái sau cùng nở rộng nhất. Không có răng hàm dưới. Cơ quan bán sinh dục đơn, có rãnh tinh dịch không rẽ nhánh. Cơ quan sinh dục ngoài được phủ bởi những gai nhỏ, ngoại trừ một gai đơn, nỏ rộng mạnh ngay cạnh rãnh tinh dịch ở đáy cơ quan bán sinh dục và những gai kích thước trung bình sắp xếp không quy luật bao quanh chiều ngang cơ quan sinh dục ở vùng Lưng màu nâu ô lưu, có vằn sọc viền đen nhạt trước và sau mắt. Đầu và cổ có vệt viền đen nhạt màu. Thân có những sọc ngang viền đen nhạt từ phía trước đến vùng giữa rồi chuyển thành những đốm nhạt nhỏ tạo thành đường kẻ lưng bên ở cuối đáy đuôi. Bụng sáng, phía mặt bên có đốm thâm ở vùng trước thân.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở độ cao thấp từ 200 đến 400m trong các khu rừng thường xanh núi cao ẩm và lạnh. Thỉnh thoảng gặp kiếm ăn ở các khe suối gần nương rẫy và rừng phục hồi. Kiếm ăn ban đêm, thức ăn là những loài bò sát, lưỡng cư sống trong khu vực phân bố. Loài mới được phát hiện và công bố năm 2006. Tên loài được đặt theo tên của Andrea Ziegler để ghi nhận sự kiên nhẫn và hỗ trợ của bà trong suốt thập kỷ nghiên cứu về bò sát, lưỡng cư ở Việt Nam.
Phân bố:
Trong nước: Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, xã Thượng Hòa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình
Nước ngoài: Lào.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Ở Việt Nam, loài này hiện chỉ ghi nhận ở vùng mở rộng của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, làm đường, xâm lấn đất rừng.
Phân hạng: VU D2.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh sống của loài nằm trong địa bàn quản lý của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng nên được bảo vệ. Mở rộng ranh giới VQG Phong Nha – Kẻ Bàng về khu vực huyện Minh Hóa. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và canh tác nông nghiệp.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae