Rắn roi thường
| Tên tiếng Anh: | Asian vine snake |
|---|---|
| Tên Latin: | Ahaetulla prasina |
| Đồng danh: | Coluber mycterizans Raffles, 1822 |
| Đồng danh: | Dryophis prasinus Boie, 1827 |
| Đồng danh: | Dryophis xanthozona Holtzinger, 1919 |
| Đồng danh: | Ahaetulla flavescens Malsawmdawngliana et al., 2022 |
| Tên khác: | Rắn roi châu á |
- Độ cao so mặt nước biển 600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Hầu khắp Đông nam Á Hầu khắp Việt Nam Vườn quốc gia Tà Đùng, Việt Nam Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu, Bình Thuận
- Môi trường sống Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Sống ở trên cây Rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới ven biển
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Ăn các loài lưỡng cư và gặm nhấm nhỏ Loài bò sát kiếm ăn ban ngày Kiếm ăn trên cây gỗ nhỏ, bụi rậm trong rừng
RẮN ROI THƯỜNG
Ahaetulla prasina (Reinhardt in Boie, 1827)
Coluber mycterizans Raffles, 1822
Dryophis prasinus Boie, 1827
Dryophis xanthozona Holtzinger, 1919
Ahaetulla flavescens Malsawmdawngliana et al., 2022
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Thân dài, mảnh, nhọn mõm. Dài mõm gấp hai lần mắt. Cá thể trưởng thành thay đổi màu sắc từ nâu sáng đến xanh lá vàng đục và thường có màu xanh huỳnh quang nổi bật. Vảy gian mũi nối với vảy môi. Có một đến bốn vảy má giữa các vảy trước trán và môi. Vảy trán dài bằng khoảng cách của nó từ cuối mõm hoặc dài hơn một chút và hơi dài hơn những vảy chẩm. Có một vảy trước mắt, nối với vảy trán. Hai vảy sau mắt. Các vảy thái dương hình thành theo công thức 2+2 hoặc 3+3, hiếm khi 1+2. Vảy môi trên thứ chín, thứ tư, thứ năm và thứ sáu chạm mắt, trong khi bốn vảy môi dưới chạm các vảy trước cằm. Có 15 hàng vảy kết sừng yếu ở vùng xương cùng. Vảy bụng có 203 – 234 hàng. Vảy huyệt phân chia. Vảy dưới đuôi 167 – 203, có màu xanh lá cây sáng, ô liu nhạt hoặc nâu xám, kèm sọc một sọc vàng dọc mỗi bên của những phần dưới. Da của cổ màu đen và trắng. Cá thể trưởng thành có thể dài tới 1.8 m, trong đó đuôi dài 0.6 m.
Sinh học, sinh thái:
Loài rắn này sống trên cây, hoạt động ban ngày này còn bắt gặp sống trong khu vực rừng rậm cao đến 2.100m. Thức ăn chủ yếu của loài này là thằn lằn, ếch nhái. Đẻ từ 4 – 10 con; Rắn con mới nở dài khoảng 35cm và giống rắn lớn. Đây là loài rắn roi phổ biến và lớn nhất trong khu vực Đông nam Á và đôi khi chùng được ghi nhận ở trong các bụi rậm còn sót lại ở các thành phố lớn. Giống như một số loài rắn trong giống Ahaetulla khác, Rắn roi thường hay thò, thụt chiếc lưỡi chẻ đôi ra bên ngoài để đánh hơi, thu nhận các chuyển động, các hạt vật chất trong không khí và cảm nhận thân nhiệt của các loài xung quanh. Sau đó chuyển các hạt vật chất, mùi vị, nhiệt độ môi trường xung quanh đến một cơ quan cảm giác trong miệng và chuyển lên não bộ để phân tích. Đây là loài có nanh độc nằm sâu phía trong họng “reared – fang”, độc tố nhẹ nhưng gần như không ảnh hưởng đến con người.
Phân bố:
Trong nước: Chúng hầu như loài này sống ở hầu khắp các khu vực có rừng từ Bắc tới Nam.
Nước ngoài: Ở hầu khắp vùng Đông nam châu Á.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Cóc tía
Tên tiếng Anh:Guangxi firebelly toad
Tên Latin:Bombina microdeladigitora
Rồng đất
Tên tiếng Anh:Chinese water dragon
Tên Latin:Physignathus cocincinus
Rắn leo cây ngân sơn
Tên tiếng Anh:Nganson bronzeback
Tên Latin:Dendrelaphis ngansonensis
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae