TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Quang Trung

Rắn rào xiêm

Tên tiếng Anh: Gray cat snake
Tên Latin: Boiga siamensis
Đồng danh: Boiga ocellata Kroon, 1973
Đồng danh: Boiga ocellata Kroon, 1973
Đồng danh: Boiga ocellata Kroon, 1973
Đồng danh: Boiga ocellata Kroon, 1973
Tên khác: Rắn mèo xám
  • Độ cao so mặt nước biển 400 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN RÀO XIÊM

Boiga siamensis Nutaphand, 1971
Boiga ocellata Kroon, 1973
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata 

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn rào mảnh, dài 190 cm. Thân màu nâu xám có sọc ngang màu đen hoặc thiên về màu nâu sẫm, đôi lúc bị chia thành sọc đôi. Đốm trắng đặc trưng xuất hiện đều ở phần thấp nhất của thân, nhìn như những “con mắt”. Đầu màu nâu đậm hơn, có sọc mắt thâm. Mặt bụng màu nâu sáng đến màu be. 23 hàng vảy giữa thân. 247-270 vảy bụng. 116-129 vảy dưới đuôi. Rắn rào xiêm có răng nanh ẩn sâu phía sau các răng hàm (reared-fang), các răng nanh này lại rất nhỏ, ngắn và xếp gọn ở sâu trong hàm răng của rắn nên rất khó để phát hiện. Nọc độc có màu trắng sữa. Khi bị cắn, độc tố có thể gây đau và viêm, sưng đáng kể nhưng không nguy hiểm hoặc đe dọa tính mạng con người.
Boiga siamensis có những đặc điểm hình thái khác với các loài cùng giống Boiga như sau:
Rắn rào đốm trắng Boiga drapiezii không có sọc mắt màu nâm xám, mà chủ yếu có vết sáng màu hơn, có đốm bụng trắng đến vàng và 19 hàng vảy thân. Rắn rào răng chó Boiga cynodon có một vết sáng ở giữa những sọc tối, không có đốm trắng ở mặt thấp hơn, có vết đốm đuôi hẹp và rõ, có bụng trắng hoa văn chocolate. Rắn rào ngọc Boiga jaspidea có đốm thâm ở đầu, sọc ngang hơn là xiên ở thân, bụng màu vàng ở phần trước chuyển sang màu trắng ở phần bụng sau.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong nhiều kiểu sinh thái rừng thường xanh từ độ cao thấp 100m đến 1.700m. Thức ăn là những loài Lưỡng cư hoặc Thú gặm nhấm nhỏ sống trong khu vực phân bố. Thường gặp vào mùa mưa ở phía Nam Việt Nam và gần như không gặp vào mùa khô.
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp các tỉnh phía Nam từ Ninh Thuận đến Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên), Bình Phước (Vườn quốc gia Bù Gia Mập), An Giang
Nước ngoài: Bangladesh, Ấn Độ, Hầu khắp các nước Đông Nam Á.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae