TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung - Ông Vĩnh An

Rắn ráo xanh

Tên tiếng Anh: Green ratsnake
Tên Latin: Ptyas nigromarginata
Đồng danh: Coluber nigromarginatus Blyth, 1855
Đồng danh: Zaocys nigromarginatus Gunther, 1864
Đồng danh: Coluber nigromarginatus Blyth, 1855
Đồng danh: Zaocys nigromarginatus Gunther, 1864
Tên khác: Rắn săn chuột xanh
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN RÁO XANH

Ptyas nigromarginata (Blyth, 1854)
Coluber nigromarginatus Blyth, 1855
Zaocys nigromarginatus Gunther, 1864
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Tổng chiều dài khoảng 130 cm. Tám vảy môi trên, trong đó vảy thứ tư và năm chạm mắt, vảy thứ bảy và tám lớn nhất. Có hai vảy trước mắt, một vảy má, một vảy nhỏ dưới má, một vảy trên mắt, hai vảy sau mắt, hai vảy trước thái dương và hai vảy sau thái dương. Mắt màu đen có sọc nhỏ nhạt. Con ngươi tròn và đen đều màu. Phần trên đầu màu vàng đồng. Vảy mõm, môi trên và một số vảy xung quanh phía sau hàm màu vàng. Các vảy sau chẩm và vảy sau mắt màu xanh lá cậy, một số có viền xanh lá pha xanh dương hẹp. Da kẽ vảy màu đen. Cổ họng có màu trắng, ngoại trừ vảy môi dưới cuối cùng và các vảy góc kề có màu vàng nhưng không tạo thành một vệt vàng rõ Sáu hàng vảy lưng có sừng. Phần thân trước màu xanh lá cây, phần sau màu trăng hoặc xanh lá cây rất nhạt có hai cặp sọc đen, có cặp giữa rộng hơn cặp ở mặt bên. Da kẽ vảy màu đen. Có ở một vùng trung tâm ở ngay chỗ khoảng hai phần ba chiều dài tổng từ đầu đến đuôi, các sọc biến mất màu thân trở nên đồng đều màu xanh lá ở phía trước. Phía cuối đuôi có các sọc trắng đứt nét thành các hàng đốm hình bầu dục.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong các khu rừng thường xanh núi cao ở độ cao 500 – 2.290 m. Là loài kiếm ăn ban đêm, ăn ếch nhái, cóc, thằn lằn, rắn, song chủ yếu là chuột. Đẻ khoảng 9 – 14 trứng, trung bình 5 – 7 trứng/lứa vào khoảng từ tháng 5 – 7. Trứng được đẻ vào đám lá rụng trong bụi cây. Ở miền Bắc Việt Nam, chúng trú đông từ tháng 11 đến đầu tháng 3 trong các hang bỏ không.
Phân bố:
Trong nước: Từ Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên), Hà Giang (Vườn quốc gia Du Già), đến Kontum (Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh)
Nước ngoài: Nepal, Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Banglades, Lào, Thái Lan.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae