TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn ráo trâu

Tên tiếng Anh: Oriental ratsnake
Tên Latin: Ptyas mucosus
Đồng danh: Coluber mucosus Linnaeus, 1758
Đồng danh: Zamenis mucosus, Bourret, 1936
Đồng danh: Coluber mucosus Linnaeus, 1758
Đồng danh: Zamenis mucosus, Bourret, 1936
Tên khác: Rắn săn chuột phương đông
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN RÁO TRÂU

Ptyas mucosus (Linnaeus, 1758)
Coluber mucosus Linnaeus, 1758
Zamenis mucosus, Bourret, 1936
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn lành, cỡ lớn dài khoảng 2m. Đầu thuôn dài phân biệt rõ với cổ. Khi tức giận cổ phình to theo chiều trước sau chứ không bạnh sang hai bên như Rắn hổ mang. Lưng màu xám nâu từ nửa thân phía sau đến mút đuôi, có những đường màu đen kích thước không đều chạy ngang thân. Bụng màu vàng, bờ sau các tấm vảy bụng và những tấm vảy dưới đuôi có viền đen. Đầu màu xám nâu. Những tấm vảy môi trên và môi dưới ở những chỗ tiếp giáp nhau có viền đen. Cá thể đực lớn hơn cá thể cái đôi chút.
Sinh học, sinh thái:
Là loài rắn lành sống trên cạn, song bò, leo cây và bơi giỏi. Chúng thường sống ở đồng bằng và trung du, thường gặp trong các bụi cây, hang của chúng là hang chuột bỏ không trong các gò đống hoặc dưới bụi tre. Bắt mồi cả về ban ngày và kiếm ăn ban đêm, ăn ếch nhái, cóc, thằn lằn, rắn, song chủ yếu là chuột. Đẻ khoảng 9 – 14 trứng, trung bình 5 – 7 trứng/lứa vào khoảng từ tháng 5 – 7. Trứng được đẻ vào đám lá rụng trong bụi cây và được rắn mẹ bảo vệ. ở miền Bắc Việt Nam, chúng trú đông từ tháng 11 đến đầu tháng 3 trong các hang chuột bỏ không. Có tập tính tự vệ rất dữ dội khi bị tấn công.
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Nội, Quảng Ninh, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Gia Lai, Đắk Lắk, Tây Ninh, Đồng Nai, Sông Bé, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Cà Mau.
Nước ngoài: Liên bang Nga, Turkmenistan, Iran, Apganistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Ấn Độ, Pakistan, Myanmar, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Cămpuchia, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Có giá trị khoa học và thẩm mỹ. Là đối tượng nghiên cứu khoa học và giúp cân bằng sinh thái trong tự nhiên. Tuy nhiên loài rắn này cũng có giá trị kinh tế nếu nhân nuôi. Một loài rắn có tập tính đặc biệt nên rất hấp dẫn. Đó là khả năng bạnh cổ và phát ra tiếng kêu, nó có thể bật nhảy lên cao và ra xa về phía trước để tấn công (đặc biệt ở con non) và mổ từ dưới lên trên từ tầm xa và là loài thường được trưng bày trong các Vườn động vật.
Tình trạng:
Đây là loài có vùng phân bố rộng, có khả năng thích nghi với nhiều loại sinh cảnh, kể cả sinh cảnh gần khu vực dân cư nhưng do bị săn bắt ở nhiều nơi để làm thực phẩm, dược liệu, kỹ nghệ da và buôn bán; ước tính quần thể trong tự nhiên đã bị suy giảm khoảng hơn 50% trong vòng 10 năm trở lại đây, hiện rất hiếm gặp, nhân tố tác động này hiện vẫn tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến quần thể của loài.
Phân hạng: EN A1 c,d.
Biện pháp bảo vệ:
Được xếp vào danh lục Cites, phụ lục II, Nghị định bổ sung 32/HĐBT nhóm IB. Nhóm động vật nghiêm cấm khai thác và sử dụng. Cần thực hiện triệt để việc cấm săn bắt, buôn bán và giết mổ. Cần thành lập các trại nuôi tập thể, khuyến khích nuôi gia đình ở những làng có nghề bắt rắn truyền thống.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 244.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae