TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Rắn rào răng chó

Tên tiếng Anh: Dog-toothed cat snake
Tên Latin: Boiga cynodon
Đồng danh: Dipsas cynodon Boie, 1827
Đồng danh: Eudipsas cynodon Fizinger, 1843
Đồng danh: Opetiodon cynodon Dumeril & Bibron, 1854
Đồng danh: Pareas waandersi Bleeker, 1860
Tên khác: Rắn mèo răng nhọn
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN RÀO RĂNG CHÓ

Boiga cynodon (Boie, 1827)
Dipsas cynodon Boie, 1827
Eudipsas cynodon Fizinger, 1843
Opetiodon cynodon Dumeril & Bibron, 1854
Pareas waandersi Bleeker, 1860
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn rào răng chó có đầu phân biệt rõ với cổ. Mắt lớn. Vảy giữa lưng 21 – 23 hàng, hàng vảy chạy giữa lưng có kích thước lớn hơn những vảy lưng khác. Tấm hậu môn đơn. Mặt lưng vàng nhạt, nâu hoặc đỏ, phía trước thân có các khoang xám đen xen khoang sáng nhạt hay những vết thẫm chạy ngang, càng về cuối thân càng mờ. Bụng vàng nhạt. Chiều dài cơ thể tới 2m.
Boiga cynodon có những đặc điểm hình thái khác với các loài cùng giống Boiga như sau:
Rắn rào đốm trắng Boiga drapiezii không có sọc mắt màu nâm xám, mà chủ yếu có vết sáng màu hơn, có đốm bụng trắng đến vàng và 19 hàng vảy thân. Rắn rào răng chó Boiga cynodon có một vết sáng ở giữa những sọc tối, không có đốm trắng ở mặt thấp hơn, có vết đốm đuôi hẹp và rõ, có bụng trắng hoa văn chocolate. Rắn rào ngọc Boiga jaspidea có đốm thâm ở đầu, sọc ngang hơn là xiên ở thân, bụng màu vàng ở phần trước chuyển sang màu trắng ở phần bụng sau. Rắn rào răng chó Boiga cynodon là loài có răng nanh ẩn sâu phía sau các răng hàm (reared-fang), các răng nanh này lại rất nhỏ, ngắn và xếp gọn ở sâu trong hàm răng của rắn nên rất khó để phát hiện. Khi bị cắn, độc tố có thể gây đau và viêm, sưng đáng kể nhưng không nguy hiểm hoặc đe dọa tính mạng con người.
Sinh học, sinh thái:
Rắn ráo răng chó sống trên cây, hoạt động và kiếm ăn chủ yếu về đêm. Thỉnh thoảng bắt gặp chúng trên mặt đất. Thức ăn chủ yếu của loài này là các loài lưỡng cư hay các loài thú nhỏ như chuột, đôi khi chúng ăn trứng chim và thằn lằn.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai, Yên Bái, Bắc Kạn, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước (Vườn quốc gia Bù Gia Mập), Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên).
Nước ngoài: Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia, Malaysia, Philippin.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam trang 2007 – Phần động vật – Trang 203

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae