TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn rào quảng tây

Tên tiếng Anh: Guangxi cat snake
Tên Latin: Boiga guangxiensis
Đồng danh: Boiga guangxiensis Wen, 1998
Đồng danh: Boiga guangxiensis Wen, 1998
Đồng danh: Boiga guangxiensis Wen, 1998
Đồng danh: Boiga guangxiensis Wen, 1998
Tên khác: Rắn rào trung quốc
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN RÀO QUẢNG TÂY

Boiga guangxiensis Wen, 1998
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 1.395 mm. Dài đuôi 161 mm. Đầu phân biệt với cổ. Mắt lớn, con ngươi tròn. Vảy mõm rộng hơn cao. Vảy gian mũi không nối với vảy má. Vảy trước trán dài hơn nửa vảy trán. Vảy trán hình ngũ giác. Các vảy chẩm dài hơn rộng. Vảy mũi phân đôi. Vảy má 1/1, không nối với mắt. Vảy trước mắt 1/1. Vảy sau mắt 2/2, bao quanh các vảy thái dương trước. Vảy trước thái dương 2/2. Vảy sau thái dương 3/3. Vảy môi trên 8/9, trong đó vảy thứ ba đến thứ năm chạm mắt, vảy thứ bảy lớn nhất. Vảy môi dưới 12/12, trong đó vảy thứ nhất đến thứ ba bao quanh tấm vảy cằm. Vảy lưng 23 – 21 – 15 hàng, mịn. Vảy bụng 262. Vảy huyệt nguyên. Vảy dưới đuôi 55, phân chia. Màu trong tự nhiên: Lưng xám, có đốm thâm ở phía trước. Mặt lưng bên nâu sáng phía trước. Bụng trắng phía trước, xám phía sau.
Theo Thomas Ziegler et al., 2006 mô tả mẫu thu được ở Đồng Nai: Có một thùy trán, hai thùy sau, và 2 – 3 thùy thái dương trước và ba thùy thái dương sau; có 8 vảy trên môi (3 – 5 tiếp xúc với mắt), 11 – 12 vảy dưới môi và 21 vảy (mặt lưng nhẵn) chạy khắp phần giữa cơ thể; 265 vảy bụng và 144 vảy dưới đuôi chia đôi; Đáng chú ý là tấm hậu môn, nguyên vẹn nhưng có nếp gấp ở giữa và 1 – 2 mắt trước (ở bên trái, có hai mắt trước; ở bên phải, đường khâu giữa “cả hai vảy” không hoàn chỉnh), với đỉnh cao nhất đỉnh đầu nhưng không chạm vào trán.
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường sống trên cây trong các khu rừng thường xanh còn tốt, rừng phục hồi sau nương rẫy ở độ cao từ 200 trên 1.500m, Nhiệt độ trung bình không khí 25 – 30°C và độ ẩm 70 – 75%. Đôi khi gặp chúng trong các khu rừng lồ ồ hay tre nứa. Loài kiếm ăn đêm, leo trèo cây rất giỏi. Thức ăn của loài này là chim, trứng chim, thú nhỏ và thằn lằn.
Phân bố:
Trong nước: Đây là loài có vùng phân bố rộng, nhưng hiếm gặp Lào Cai (Cốc San), Cao Bằng (Nguyên Bình), Lạng Sơn (Mẫu Sơn, Hữu Lũng), Thái Nguyên (Kỳ Phú), Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), Bắc Giang (Lục Nam), Quảng Bình (Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng), Kontum (Kon Plong), Gia Lai (Trạm Lập), Lâm Đồng (Đà Tẻh), Tây Ninh (Núi Bà Đen) và Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên).
Nước ngoài: Trung quốc (Quảng Tây), Lào.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo – Web Admin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae