TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Thiên Tạo

Rắn rào ngọc

Tên tiếng Anh: Jasper cat snake
Tên Latin: Boiga jaspidea
Đồng danh: Triglyphodon jaspideum Duméril et al., 1854
Đồng danh: Dipsas jaspidea Jan, 1863
Đồng danh: Dipsadomorphus jaspideus Boulenger, 1896
Đồng danh:
Tên khác: Rắn rào jasper
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN RÀO NGỌC

Boiga jaspidea Duméril, Bibron & Duméril, 1854
Triglyphodon jaspideum Duméril et al., 1854
Dipsas jaspidea Jan, 1863
Dipsadomorphus jaspideus Boulenger, 1896
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata 

Đặc điểm nhận dạng:
Một loài rắn rào mảnh có màu sắc rất đẹp và sặc sỡ trong tự nhiên. Vảy má 1. Vảy trước mắt 1 – 2, chạm mặt trên của đầu, thường nối với vảy trán. Vảy sau mắt 2. Vùng thái dương có 2 vảy trước và 2 – 3 vảy sau. Vảy môi trên 8 – 9 (3 – 5 hoặc 4 – 6 nối với mắt). Vảy môi dưới 11 – 12. Công thức vảy lưng 19 – 21: 21 – 23: 15 – 17. Vảy xương sống nở rộng. Vảy bụng 237 – 267. Vảy huyệt không phân chia. Vảy dưới đuôi phân chia, có 140 – 166 vảy. Màu nền của lưng là nâu đỏ có một dãy đốm đen không đều và một loạt kẻ sọc sáng mỏng trên dãy xương sống. Các mặt thấp hơn của thân có đốm sáng nền đen lan lên đến mép xương sống. Đầu màu nâu, có hoa văn đốm đen viền trắng.
Sinh học, sinh thái:
Loài này sống trong các sinh cảnh ở các khu rừng thường xanh và thứ sinh ở độ cao trung bình từ 400m đến 1.500m. Thức ăn là những loài bò sát, lưỡng cư sống trong khu vực phân bố. Kiếm ăn ban đêm, ban ngày nghỉ ngơi lẩn trốn trong các khu vực bụi rậm. Màu sắc của con trưởng thành thay đổi rất khác và rõ rệt với con non. Khi bị đe dọa chúng sẽ làm bành lớp da ở cổ nhằm bắt chước các loài rắn độc để hù dọa kẻ thù. Nhưng đây là loài rắn lành và vô hại.
Phân bố:
Trong nước: Loài này phổ phân bố rộng ở các tỉnh phía Nam Việt Nam Lâm Đồng, Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên, Khu bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu), Bình Phước (Vườn quốc gia Bù Gia Mập).
Nước ngoài: Indonesia (Bangka, Java, Kalimantan, Quần đảo Mentawai, Nias, Sumatra); Malaysia (Malaya và Đông Malaysia, Borneo); Singapore, Thái Lan, Cambodia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn nhiều trong tự nhiên. Tuy nhiên gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae