TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Rắn rào cây

Tên tiếng Anh: Mangrove snake
Tên Latin: Boiga dendrophila
Đồng danh: Dipsas dendrophila Wagler, 1828
Đồng danh: Dipsadomorphus dendrophilus Andersson, 1916
Đồng danh: Naja celebensis Ahl, 1933
Đồng danh: Boiga dendrophila (Boie, 1827)
Tên khác: Rắn rào rừng ngập mặn
  • Độ cao so mặt nước biển 100 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN RÀO CÂY

Boiga dendrophila (Boie, 1827)
Dipsas dendrophila Wagler, 1828
Dipsadomorphus dendrophilus Andersson, 1916
Naja celebensis AHL, 1933
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước lớn, chiều dài cơ thể chúng khoảng 250 cm. Đầu có hai màu đen và vàng, phần màu đen ở phía trên và màu vàng phía dưới. Con cái, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 1.450 mm. dài đuôi 362 mm. Vảy lưng 21 – 21 – 17 hàng. Vảy bụng 225. Vảy dưới đuôi 96 có một vảy trước huyệt. Vảy môi trên 8, trong đó vảy thứ ba, thứ tư và thứ năm chạm mắt. Có 44 vằn trắng bên thân từ cổ đến huyệt. Bụng đen trở nên đen hoàn toàn ở vảy bụng thứ 126 Con đực, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 1.480 mm. Dài đuôi 350 mm. Vảy lưng 21 – 23 – 17 hàng. Vảy bụng 211. Vảy dưới đuôi 91 có một vảy trước huyệt. Vảy môi trên 8, trong đó vảy thứ ba, thứ tư và thứ năm chạm mắt. Có 42 vằn trắng bên thân từ cổ đến huyệt. Bụng đen trở nên đen hoàn toàn ở vảy bụng thứ 84
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường sống trong các khu rừng có độ ẩm cao và thường được nhìn thấy trên các cành cây gần vùng có nước ở độ cao khoảng 610m và còn gặp nhiều ở các khu rừng ngập mặn. Thức ăn của loài này chưa được biết đến song chúng có thể ăn cá loài ếch nhái. Con cái đẻ từ 4 – 15 trứng (khá lớn) con non nở sau khi ấp khoảng 12 tuần và có chiều dài khoảng 35 – 43 cm
Phân bố:
Trong nước: Binh Dương (Thủ Dầu Một), Bình Phước, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Tên loài được đặt theo tiếng Hy Lạp dendron = cây và philos = được yêu thương, thân yêu.
Nước ngoài: Indonesia (Bangka, Belitung, Java, Bali, Sulawesi, Quần đảo Riau, Sumatra, Natuna); Campuchia, Myanmar, Tây Malaysia (Malaya; Johor: Pulau Sibu); Thái Lan, Philippines (Panay).
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn nhiều trong tự nhiên. Tuy nhiên gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo, Phạm Thế Cường – Web Admin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae