TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Quảng Trường

Rắn lục vảy lưng ba gờ

Tên tiếng Anh: Three-horned-scaled pit viper
Tên Latin: Protobothrops sieversorum
Đồng danh: Triceratolepidophis sieversorum Ziegler et al., 2000
Đồng danh: Protobothrops sieversorum Ziegler et al., 2000
Đồng danh: Triceratolepidophis sieversorum Ziegler et al., 2000
Đồng danh: Protobothrops sieversorum Ziegler et al., 2000
Tên khác: Rắn lục vảy lưng ba gờ
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN LỤC VẢY LƯNG BA GỜ

Protobothrops sieversorum Ziegler et al., 2000
Triceratolepidophis sieversorum Ziegler et al., 2000
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Thân hình trụ nhưng hóp mặt bên. Đầu hình tam giác, lớn, phẳng, hơi ngắn, phân biệt với cổ. Mõm thon dài, gấp 2.2 lần đường kính mắt, phẳng, tròn khi nhìn tử trên xuống, hình chữ nhật khi nhìn ngang, có gờ sóng mũi rõ. Mắt hơi nhỏ. Đuôi khá ngắn, hình trụ, chót nhọn, không dễ cầm nắm. 9 vảy trên mõm xếp thành một hàng giữa các vảy gian mũi và một hàng nối với mép của mắt, không nở rộng và cùng kích thước với vảy đầu. 5/5 vảy đuôi mắt gần bằng nhau được bao viền bởi gờ sóng mũi giữa vảy gian mũi và vảy trên mắt, hơi nở rộng so với vảy mõm, 1/1 vảy má, 3 vảy trước mắt. 3/3 vảy sau mắt, 2 vảy trên mắt mỗi bên, 15 vảy xếp thành một hàng giữa các vảy trên mắt. Các vảy thái dương rất không bằng nhau, xếp thành 3 hàng: trong đó hàng dưới mịn, nở rộng hơn, hàng thứ hai nở rộng, có gờ nhẹ, hàng trên nhỏ, nhưng có gờ mạnh. 1/1 vảy dưới mắt. 9 vảy môi trên bên trái/8 vảy môi trên bên phải. 14 (trái)/13 (phải) vảy môi dưới. 9/9 hàng vảy họng mịn. Tấm cảy cằm mịn. Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 1045 mm. Dài đuôi 210 mm. Dài đầu 41.9 mm. Vảy bụng 228 (+2 vảy trước bụng). Vảy dưới đuôi 82, phân đôi, một vảy chót nữa. Vảy huyệt nguyên. Vảy lưng 33 – 23 – 17 hàng, hình thoi, có gờ rõ, bao gồm hàng ngoài cùng vì có sự xuất hiện của gờ dọc thân được tạo nên bởi ba sừng hoặc mào nhọn, tách biệt với hai phần dưới. Hàng vảy lưng đầu tiên nở rộng, trong khi những hãng khác (bao gồm cả hàng vảy xương sống) kích thước như nhau. Lỗ mũi nằm ở vách sau của vảy mũi. Vảy mõm rộng gâó 1.6 lần cao, hình tam giác, có thể thấy được khi nhìn từ trên xuống. Vảy mũi hình tứ giác, thon dài, nửa trước lớn hơn phần sau, lên đến sóng mũi. Dài gấp 1.3 hoặc 1.4 lần cao, phân dọc, có vảy mũi lớn ở giữa nó. Một cặp vảy gian mũi hình chữ nhật thon dài nở rộng, rộng gắp 2.5 lần sâu, gần bằng 2.5 dài và 1.2 lần rộng so với các vảy mõm trên, tách biệt với hai vảy tam giác nhỏ, hơi lớn hơn vảy mõm. Vảy lưng giảm từ 23 hàng xuống 17 hàng như sau: Bên phải: 3+4 (vảy bụng 129); 4+5 (vảy bụng 136); 3+4 (vảy bụng 156) Ở giữa: 23 hàng (ngay mức vảy bụng 129 đến 132) – 21 (ngay mức vảy bụng 136 đến 138) – 19 hàng (ngay mức vảy bụng 151 đến 156) – 17 hàng Bên trái : 4+5 (vảy bụng 132); 4+5 (vảy bụng 138); 3+4 )vảy bụng 151) Trong trạng thái ngâm cồn: Mặt lưng màu nâu xám sáng, có một hoa văn màu nâu sẫm hình thoi màu nâu xám đến đen chạy từ cổ đến chót đuôi. Những đốm hoa văn này cũng có trên xương sống. Mặt trên của đầu màu nâu xám, hoa văn có đốm nâu sẫm. Mặt bên của đầu màu be đến nâu xám nhạt, có vằn dọc màu nâu sẫn trên môi dưới và môi trên phía trước. Một sọc nâu sẫn rộng chạy từ mắt đến góc mõm. Bụng màu nâu vàng đến be, có đính đốm màu nâu xám. Chót ngoài cùng của vảy bụng có đốm nâu. Vảy dưới đuôi có đốm lẫn với hoa văn lưng bên hình thành vòng kín ở hai phần ba đuôi.
Sinh học, sinh thái:
Loài này sống trong rừng thường xanh trên núi đá vôi, thường gặp ở ven các cửa hang hoặc hốc đá, sống đơn lẻ và hoạt động ban đêm. Thức ăn được ghi nhận là những loài lưỡng cư, gặm nhấm nhỏ sống trong khu vực phân bố. Trong nuôi nhốt đẻ 3-4 trứng. Hiếm gặp, ghi nhận ở trong vùng lõi và các dãy núi đá vôi thuộc vùng đệm của Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng. ở độ cao 600 m
Phân bố:
Trong nước: Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng).
Nước ngoài: Lào.
Giá trị:
Loài đặc hữu Đông dương, có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện chỉ ghi nhận ở Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và vùng phụ cận; diện tích phạm vi phân bố (EOO) ước tính < 5.000 km2; kích cỡ quần thể nhỏ, sinh cảnh sống của loài bị chia cắt và suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, làm đường, xâm lấn đất rừng.
Phân hạng: EN B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài một phần nằm trong Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nên được bảo vệ. Đề xuất Mở rộng ranh giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng về khu vực huyện Minh Hóa để bảo vệ sinh cảnh sống của loài.


Mô tả loài: 
Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae