TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phạm Thế Cường

Rắn lục trùng khánh

Tên tiếng Anh: Trungkhanh pitviper
Tên Latin: Protobothrops trungkhanhensis 
Đồng danh: Protobothrops trungkhanhensis Orlov et al., 2009
Đồng danh: Protobothrops trungkhanhensis Orlov et al., 2009
Đồng danh: Protobothrops trungkhanhensis Orlov et al., 2009
Đồng danh: Protobothrops trungkhanhensis Orlov et al., 2009
Tên khác: Rắn lục núi đá vôi
  • Độ cao so mặt nước biển 1500 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN LỤC TRÙNG KHÁNH

Protobothrops trungkhanhensis Orlov et al., 2009
Họ: Rắn lục Viperidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài bò sát kiếm ăn đêm có kích thước 733mm khá nhỏ so với những loài thuộc giống Protobothrops. Chiều dài thân con đực khoảng 591mm, dài đuôi 142mm; con cái có chiều dài thân 576mm, dài đuôi 123mm. Mình thon, vảy bụng 188 – 194, vảy đuôi 75 – 76 đôi, đĩa hậu môn phẳng. Các hàng vảy xếp xéo chắc chắn, vảy có hình thoi bao gồm cả hàng vảy lưng đầu tiên, số hàng vảy lưng là 19 (tính từ đầu đến vảy bụng thứ 15), số hàng vảy thân 19, số hàng vảy đuôi 17 (tính từ đĩa hậu môn đến vảy bụng thứ 15). Đầu rất nhỏ có hình tam giác và phân biệt với cổ được bao phủ bởi các tấm vảy rất nhỏ, lồi có bề mặt không đồng nhất. Lỗ mũi lớn có hình thang. Màu sắc mặt lưng và đầu của con đực và cái tương tự nhau có màu nâu xám nhạt. Khắp thân và đuôi có 76 – 84 vệt màu nâu sẫm với các gờ ghồ ghề, thường. Bụng màu xám sẫm, đen ở phần gần đuôi, chóp đuôi không có vệt đỏ.
Sinh học, sinh thái:
Loài này được ghi nhận ở độ cao 500 – 700m trong các khu rừng thường xanh và rừng mưa núi đá vôi nhiệt đới. Loài này được phát hiện vào giữa tháng 9 trong các cuộc điều tra ban đêm, chúng sống trong các hốc đá có nhiệt độ 22 – 240C, không phát hiện loài này vào ban ngày. Có thể loài Protobothrops trungkhanhensis cũng hoạt động về đêm như các loài thuộc giống Protobothrops và Trimeresurus và thức ăn là các loài ếch nhái, thú nhỏ trong khu vực phân bố. Đây là loài giắn độc có nọc độc tê bảo và nguy hiểm đến tính mạng con người.
Phân bố:
Trong nước: Loài mới phát hiện năm 2009 và cho đến nay loài này mới chỉ được phát hiện ở khu bảo tồn thiên nhiên Trùng Khánh thuộc tỉnh Cao Bằng, Đông bắc Việt Nam, ở độ cao 500 – 700m so với mực nước biển. Tên loài được đặt tên nơi phát hiện và phân bố Khu bảo tồn thiên nhiên Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Bắc Việt Nam.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận ở khu vực núi đá vôi thuộc tỉnh Cao Bằng và Thái Nguyên; diện tích phạm vi phân bố (EOO) khoảng 1.800 km2, số địa điểm ghi nhận ở Việt Nam là 2 nhưng phân bố thực tế có thể mở rộng dọc theo dãy núi đá vôi thuộc các tỉnh Lạng Sơn và Thái Nguyên; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác đá, lâm sản, làm đường và xâm lấn đất rừng.
Phân hạng: VU B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại cá Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae