TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn lục sừng

Tên tiếng Anh: Horned pit viper
Tên Latin: Protobothrops cornutus
Đồng danh: Trimeresurus cornutus Smith, 1930
Đồng danh: Ceratrimeresurus shenlii Liang & Liu in Liang, 2003
Đồng danh: Trimeresurus cornutus Smith, 1930
Đồng danh: Ceratrimeresurus shenlii Liang & Liu in Liang, 2003
Tên khác: Rắn lục đá quảng bình
  • Độ cao so mặt nước biển 1500 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN LỤC SỪNG

Protobothrops cornutus Herrmann et al., 2004
Trimeresurus cornutus Smith, 1930
Ceratrimeresurus shenlii Liang & Liu in Liang, 2003
Họ: Rắn lục Viperidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 460 mm, dài đuôi 65 mm ở con cái, 510 mm và 126 mm tương ứng theo thứ tự ở con đực. Rộng đầu 12.6 – 13.2 mm. Dài đầu 18.8 – 20.1 mm. Thân thon dài. Đầu tam giác, phân biệt với cổ, phẳng, có lớp vảy nhỏ. Mõm tù. Vảy mõm hình tam giác, không thấy từ trên xuống. Vảy mũi 1, gần hình vuông. Vảy má 3, giữa vảy mũi và vảy trước mắt. Hốc má được bao quanh bởi vảy môi trên thứ hai và 2 vảy trước mắt. Vảy môi trên 10, trong đó vảy đầu tiên hoàn toàn tách khỏi vảy mũi, vảy thứ ba lớn nhất, lõm ở giữa. Vảy quanh mắt 13. Vảy trên mắt 6. Vảy gian mắt 14. Các sừng gồm hai vảy nở rộng và hai vảy trên mắt nở rộng liền kề. Các vảy môi trên tách khỏi vảy dưới mắt bởi 2 vảy. Vảy môi dưới 10 – 14. Vảy lưng có gờ, 21 – 21 – 15 hàng ở con cái, 21 – 19 – 15 hàng ở con đực. Vảy bụng 191 ở con đực và 202 ở con cái, cộng với 1 vảy trước bụng. Vảy dưới đuôi 71 ở con cái và 75 ở con đực, cộng với 1 gai vảy ở chót đuôi, tất cả chia đôi. Vảy huyệt nguyên. Trong tự nhiên: Mặt lưng của đầu màu xám, có vệt nâu sẫm. Một sọc ở mỗi bên chạy từ sau mắt đến mép môi. Mặt lưng của thân màu nâu xám có dãy đốm dọc giữa thân. Mặt bên thân màu nâu sáng. Mặt bụng màu xanh lam xám. Chót đuôi màu nâu vàng. Phân biệt giới tính: Con cái khác con đực bởi có nhiều hàng vảy lưng hơn (21 so với 19) và nhiều vảy bụng hơn (202 so với 191). Mặt lưng của con đực có vệt nâu sẫm, hơi nở bành rộng và xếp không đều ra sau (so với vệt xám dọc thân ở con cái)
Sinh học, sinh thái:
Loài này được tìm thấy trên mặt đất trong rừng thường xanh và trên núi đá vôi hay các mỏm đá granit. Thỉnh thoảng gặp chúng săn mồi ban đêm ở các khu rừng phục hồi ở các khu vực núi đá vôi có độ cao từ 59 m – 1.400 m
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên, Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên, Văn Bàn), Lai Châu (Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Tè).
Nước ngoài: Trung Quốc (Quảng Đông, Phúc Kiến)
Giá trị:
Rắn lục sừng là loài rắn độc có nọc độc tế bào. Nhưng loài này có giá trị về mặt khoa học, thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn, để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận ở 5 địa điểm thuộc khu vực miền núi ở miền Bắc vào đến Thừa Thiên Huế, khá hiếm gặp; diện tích phạm vi phân bố (EOO) ước tính < 20.000 km2; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác đá, lâm sản và xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp.
Phân hạng: VU B1ab(iii).
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác đá, lâm sản và xâm lấn đất rừng.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 217.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae