TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Rắn lục núi quan âm

Tên tiếng Anh: Guanyinshan mountain pitviper
Tên Latin: Ovophis zhaoermii
Đồng danh: Ovophis zhaoermii Liu, Hou, Mo, Li, Luo, Rao & Li, 2025
Đồng danh: Ovophis zhaoermii Liu, Hou, Mo, Li, Luo, Rao & Li, 2025
Đồng danh: Ovophis zhaoermii Liu, Hou, Mo, Li, Luo, Rao & Li, 2025
Đồng danh: Ovophis zhaoermii Liu, Hou, Mo, Li, Luo, Rao & Li, 2025
Tên khác: Rắn lục núi lai châu
  • Độ cao so mặt nước biển 1600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN LỤC NÚI QUAN ÂM

Ovophis zhaoermii Liu, Hou, Mo, Li, Luo, Rao & Li, 2025
Ovophis zhaoermii Liu et al., 2025
Họ: Rắn lục Viperidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Con đực trưởng thành, thân mảnh, đuôi ngắn. Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 541 mm. Dài đuôi 133 mm. Đầu hình quả lê, phân biệt với cổ. Mõm tù và tròn, vảy mõm hình thang. Môi trên có thể thấy được khi nhìn từ trên xuống. Mắt nhỏ, con ngươi hình bầu dục, nằm dọc. Vảy trên mắt 1/1, thon dài, hình bầu dục, những vảy lớn nhất ở vảy đầu trên lưng, tách biệt bởi sáu vảy nhỏ. Lỗ mũi gần mút mõm. 2 vảy giãn mũi, hình tứ giác, tách biệt bởi một vảy nhỏ. 2 vảy nhỏ hơn giữa vảy mõm và các vảy gian mũi. Vảy má 1/1. Vảy trước mắt 3/3. Vảy sau mắt 2/3. Vảy dưới mắt 1/3, tách biệt với các vảy môi trên bởi 2 hàng vảy. Vảy môi trên 8/9, trong đó vảy thứ nhất và thứ hai nối với vảy mũi, vảy thứ hai bao quanh hốc má, vảy thứ ba lớn hơn vảy thứ tư. Vảy môi dưới 9/10, trong đó cặp đầu tiên nối với phía sau vảy cằm, vảy thứ nhất đến thứ ba nối với các tấm vảy cằm. Vảy cằm hình tam giác. Một cặp tấm vảy cằm, nối giữa. Các vảy lưng 22 – 21 – 17 hàng, các vảy có gờ rõ, trừ ràng ngoài rìa. Vảy bụng 148, bao gồm cả vảy trước bụng. Vảy dưới đuôi 61, trong đó vảy thứ nhất đến thứ bảy không phân đôi, các vảy khác phân đôi. Vảy huyệt không phân đôi.
Màu sắc trong tự nhiên: Mặt lưng của đầu màu đen nâu. Mặt bên của đầu màu nâu đỏ sẫm, có một sọc đen nâu rộng sau mắt ở mỗi bên. Một sọc trắng đứt nét chạy từ góc miệng đến gáy ở mỗi bên. Môi dưới màu nâu đỏ, có đốm trắng không đều. Mặt lưng của thân màu đen nâu có nhiều vệt màu đen lớn, hình tứ giác ở mặt lưng bên, các đốm bên trái và phải sắp xếp thành hoa văn chéo cánh sẻ. Hai đốm đen bên dưới mỗi vệt lưng bên màu đen. Một vài vệt đen không đều ở phần bụng bên của thân. Mặt lưng phía trước của đuôi màu đen nâu sẫm. Mặt lưng phía sau của đuôi màu trắng, có một dãy liên tiếp các đốm màu trắng trên hai hàng vảy giữa. Mặt bụng của đầu màu nâu đỏ có các vệt trắng không đều. Mặt bụng của thân và đuôi màu vàng nâu có các vệt nâu xám không đều. Con ngươi màu trắng có hoa văn mạng lưới đen.

Rắn lục quan âm Ovophis zhaoermii khác các loài cùng giống khác bởi những đặc điểm sau:
Khác với loài Ovophis tonkinensis bởi có nhiều vảy dưới đuôi hơn (57 – 64 so với 39 – 49), có nhiều vảy bụng hơn (146 – 148 so với 128 – 134), hầu hết vảy dưới đuôi chia đôi (so với tất cả hoặc hầu hết vảy dưới đuôi không chia đôi), vảy môi dưới thứ ba lớn hơn thứ tư (so với vảy thứ tư lớn hơn thứ ba).
Khác với loài Ovophis monticola bởi mặt lưng của đầu không có hoa văn (so với có hoa văn), có nhiều vảy dưới đuôi hơn (57 – 64 so với 37 – 58), một số vảy dưới đuôi không chia đôi (so với tất cả các vảy dưới đuôi đều chia đôi), vảy lưng xếp thành 22 – 21 – 17 hàng (so với 23 hoặc 21 – 23 hoặc 21 – 19 hàng), có đốm trắng nối tiếp trên mặt lưng của đuôi (so với đốm trắng rải rác trên mặt lưng của đuôi).
Khác với loài Ovophis convictus bởi có đuôi dài hơn (tỉ lệ dài đuôi/ tổng chiều dài 0.191 – 0.206 so với 0.064 – 0.128), nhiều vảy dưới đuôi hơn (57 – 64 so với 17 – 31), nhiều vảy bụng hơn (146 – 148 so với 120 – 140), một số vảy dưới đuôi không chia đôi (so với tất cả các vảy dưới đuôi đều chia đôi), có đốm trắng nối tiếp trên mặt lưng của đuôi (so với đốm trắng rải rác trên mặt lưng của đuôi).
Khác với loài Ovophis anitae bởi có đuôi dài hơn (tỉ lệ dài đuôi/ tổng chiều dài 0.191 – 0.206 so với 0.133), nhiều vảy dưới đuôi hơn (57 – 64 so với 47), một số vảy dưới đuôi không chia đôi (so với tất cả các vảy dưới đuôi đều chia đôi), vảy lưng xếp thành 22 – 21 – 17 hàng (so với 27 – 23 – 19 hàng), vảy môi trên thứ hai được bai quanh vảy má (so với vảy môi trên thứ hai tách biệt với vảy má).
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu của chúng là thú nhỏ như chuôt, sóc, ngoài ra còn có chim, thằn lằn và ếch nhái. Rắn đẻ 7 – 12 trứng trong một hốc đất hay trên đống rác gần những mảnh thực vật. Trứng được rắn mẹ canh giữ cho đến khi nở. Rắn con mới nở dài khoảng 170 – 195 mm. Loài này thường sống ở vùng rừng núi có độ cao lên tới 2.500 m. Đôi khi gặp sống gần nơi ở của người như vườn, những bụi rậm gần trường học hay sân chơi. Rắn hoạt động kiếm ăn về ban đêm, loài rắn độcnọc độc tế bào gây nguy hiểm, chết người.
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu (Pơ Ma Lung, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu). Loài mới phát hiện năm 2025 và ghi nhận mới ở Việt Nam năm 2026.
Nước ngoài: Trung Quốc.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ít do sinh cảnh sống bị con nười tàn phá, bị bắt để phục vụ nhu cầu làm thuốc, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên. Hiện nay loài này ít gặp trong tự nhiên.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, Cấm khai thác rừng ở các khu vực sinh cảnh loài này phân bố, tổ chức nuôi nhân giống trong các trại nuôi nhắm nghiên cứu nọc độc để tạo ra các chế phẩm thuốc chữa bệnh..

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung  –  WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae