TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn lục núi

Tên tiếng Anh: Chinese mountain pit viper
Tên Latin: Ovophis monticola
Đồng danh: Ovophis monticola Gunther, 1864
Đồng danh: Trimeresurus monticola Gunther, 1864
Đồng danh: Lachesis monticola Venning, 1910
Đồng danh: Trimeresurus covictus Bourret, 1934
Tên khác: Rắn lục núi trung quốc
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN LỤC NÚI

Ovophis monticola Gunther, 1864
Lachesis monticola Venning, 1910
Trimeresurus monticola Gunther, 1864
Trimeresurus covictus Bourret, 1934
Họ: Rắn lục Viperidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước trung bình thân hình trụ tròn, ngắn, chắc. Chiều dài thân ở con đực 490 mm, con cái 1.100 mm; chiều dài đuôi con đực 80 mm, con cái 150 mm. Đầu hình tam giác, mặt trên phủ những vảy nhỏ. Mắt nhỏ, mõm rất ngắn bằng 2 lần dài hơn đường kính mắt. Vảy trên đầu nhẵn. Vảy trên đầu nhẵn, xếp gối. Tấm trên mắt rộng, nguyên, dài hơn đường kính mắt. Có từ 6 – 7 vảy trung gian giữa hai tấm trên mắt. tấm gian mũi rộng hơn dài, cách nhau bởi 1 – 2 tấm vảy rất bé ở trước và chạm nhau ở phần sau. Vảy vùng thái dương nhẵn. Tấm mép trên có 8 – 9 vảy, tấm thứ nhật hoàn toàn tách biệt với tấm mũi, tấm thứ hai và thứ ba tiếp xúc với phía dưới vảy viền hố má, tấm thứ ba lớn nhất. Có từ 2 – 3 hàng vảy nhỏ giữa các tấm mép trên và các vảy dưới mặt nhỏ. Mỗi bên mép dưới có 11 vảy, cặp vảy đầu tiên tiếp xúc với nhau sau tấm cằm có hình tam giác, Một cặp tva3y sau cằm, tiếp xúc với vảy mép dưới thứ nhất và thứ hai. Vảy thân 25: 23: 17 hàng, có gờ mảnh, hàng vảy tiếp giáp với vảy bụng nhẳn. 135 vảy bụng, 55 vảy dưới đuôi kép. Tấm hậu môn nguyên. Mặt lưng nâu nhạt hay nâu thẫm có những vết lớn màu nâu thẫm hơn xếp không đều và khác biệt hoa văn phần lưng với Rắn chàm quạp Calloselasma rhodostoma, Rắn lục cườm Protobothrops mucrosquamatus. Hai bên sườn có những vết nhỏ. Mặt bụng màu trắng hay vàng. Chiều dài cơ thể khoảng trên 500mm.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu của chúng là thú nhỏ như chuôt, ngoài ra còn có chim, thằn lằn và ếch nhái. Rắn đẻ 5 – 10 trứng trong một hốc đất hay trên đống rác gần những mảnh thực vật. Trứng được rắn mẹ canh giữ cho đến khi nở. Rắn con mới nở dài khoảng 160 – 180 mm. Loài này thường sống ở vùng rừng núi có độ cao lên tới 1.500 m. Đôi khi gặp sống gần nơi ở của người như vườn, những bụi rậm gần trường học hay sân chơi. Rắn hoạt động kiếm ăn về ban đêm, loài rắn độc, nọc độc tế bào gây nguy hiểm, chết người.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Vĩnh Phú, Hà Nội, Quảng Trị, Quảng Nam – Đà Nẵng, Lâm Đồng. Gia Lai, Kontum.
Nước ngoài: Nepal, Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Malaysia, đảo Sumatra.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng rắn lục núi ngoài tự nhiên ít do sinh cảnh sống bị con nười tàn phá, bị bắt để phục vụ nhu cầu làm thuốc, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên. Hiện nay loài này ít gặp trong tự nhiên.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, Cấm khai thác rừng ở các khu vực sinh cảnh loài này phân bố, tổ chức nuôi nhân giống trong các trại nuôi nhắm nghiên cứu nọc độc để tạo ra các chế phẩm thuốc chữa bệnh..

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2000 – phần động vật – trang 218.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae