TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Rắn lục hoa cân

Tên tiếng Anh: Wagler's pit viper
Tên Latin: Tropidolaemus wagleri
Đồng danh: Cophias wagleri Boie, 1827
Đồng danh: Trimeresurus wagleri Boie, 1842
Đồng danh: Cophias wagleri Boie, 1827
Đồng danh: Trimeresurus wagleri Boie, 1842
Tên khác: Rắn lục cọ dầu
  • Độ cao so mặt nước biển 400 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN LỤC HOA CÂN

Tropidolaemus wagleri (Boie, 1827)
Cophias wagleri Boie, 1827
Trimeresurus wagleri Boie, 1842
Họ: Rắn lục Viperidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có màu sắc, hoa văn rất đẹp thuộc Họ Rắn lục Viperidae. Rắn lục hoa cân có kích thước trung bình. Dài thân 390 – 620mm, dài đuôi 80 – 125mm. Đầu rất lớn có cơ thể chắc mập, với những khoanh mảnh có màu chấm trắng, đỏ hay xanh đậm, đỉnh đầu màu đen với những chấm xanh nhạt điểm quanh. Vảy bụng màu trắng, viền đen, đuôi màu đen. Con trưởng thành da có màu xanh lá cây sáng hơn với những chấm hay khoanh đỏ trắng. Con cái có nền thân màu đen (chưa gặp xanh lá), Khi trưởng thành có các khoang vàng quanh thân. Con cái trưởng thành và con non có vằn trắng. Sọc sau mắt màu đen ở con cái trưởng thành và một sọc trắng. Con đực trưởng thành và con non có màu xanh lá rực rỡ với những đốm màu trắng, đỏ ở con đực và ở cả con đực và cái non. Bụng vằn ở con cái trưởng thành và bụng đồng màu ở con con đực và con non. Có 21 – 23 hàng vảy lưng ở giữa thân ở con đực và 23 – 27 hàng ở con cái. Vảy sừng ở con đực thường mềm và không lồi ra rõ và cứng như ở con cái. Con đực có 143 – 152 hàng vảy và 134 – 147 hàng vảy bụng ở con cái. Có 50 – 55 vảy dưới đuôi ở con đực và 45 – 54 vảy ở con cái. Các loài của giống Tropidolaemus được đặc trưng bởi sự thiếu lỗ mũi, vảy gian mũi nối nhau, mặt trên mõm và đầu được phủ bởi vảy hóa sừng nhỏ, vảy họng chưa hóa sứng hoàn toàn, vảy môi trên thứ hai không bao viền trước của hốc má và phủ đỉnh bởi một vảy trước hốc.
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát này sống ở các khu vực có nhiều cây bụi trong rừng thường xanh và cả rừng ngập mặn và cho tới độ cao khoảng 1.200m so với mặt biển. Hoạt động chủ yếu kiếm ăn đêm. Thức ăn là những loài lưỡng cư, thú gặm nhấm sống trong khu vực phân bố. Chúng thường sống trên cây, khá chậm chạp, nằm bất động trong một thời gian dài chờ đợi con mồi đi ngang qua và tấn công một cách bất ngờ. Là loài có nọc độc tế bào, rất nguy hiểm có thể gây chết người.
Phân bố:
Trong nước: Đồng Nai, Sông Bé (Thủ Dầu Môt), Cà Mau (theo ghi nhận của Orlov et al., 2003). Có thể loài này không có ở Việt Nam, nhưng chúng được buôn lậu đến Việt Nam và bị bắt, thu hồi, sau đó được các nhân viên bảo tồn tái thả ra môi trường tự nhiên.
Nước ngoài: Loài này ghi nhận phân bố ở Nam Thái Lan, Tây Malaysia, một phần ở Indonesia và Singapore, Philippines.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae