TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn lục đuôi đỏ

Tên tiếng Anh: White-lipped pitviper
Tên Latin: Trimeresurus albolabris
Đồng danh: Trigonocephalus viridis Muller & Schlegel, 1842
Đồng danh: Trigonocephalus rhodostoma Muller & Schlegel, 1844
Đồng danh: Bothrops erythrurus Cope, 1895
Đồng danh: Lachesis gramineus Boulenger, 1896
Tên khác: Rắn lục mép trắng
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN LỤC ĐUÔI ĐỎ

Trimeresurus albolabris Gray, 1842
Trigonocephalus viridis Muller & Schlegel, 1842
Trigonocephalus rhodostoma Muller & Schlegel, 1844
Bothrops erythrurus Cope, 1895
Lachesis gramineus Boulenger, 1896
Họ: Rắn lục Viperidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước trung bình, con cái lớn hơn con đực. Chiều dài thân con đực 600 mm, con cái dài 810 mm; chiều dài đuôi con đực 120 mm, con cái 130 mm. Thân tròn, các vảy gồ lên. Đầu và thân màu xanh lá cây, cằm, cổ họng và bụng màu xanh lục nhạt hay trắng vàng nhạt. Rắn đực có sọc trắng trên hàng vảy thân đầu tiên mà ở rắn cái sọc này rất mờ nhạt hoặc không có. Đuôi màu nâu đỏ nhạt.
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát này thường thích sống ở vùng đồi núi có độ cao dưới 400m, trong các khu rừng thường xanh, đầm lầy hay các khu đất nông ngiệp. Thức ăn của chúng là chuột, chim, thằn lằn và ếch vào ban đêm trên mặt đất và nghỉ ngơi trên cây vào ban ngày. Mỗi lứa đẻ gồm từ 7 đến 16 rắn con có đặc điểm giống hệt rắn trưởng thành, dài 12 – 18cm. Có nọc độc và nguy hiểm. Loài rắn này gây ra nhiều vết thương nguy hiểm do vết cắn của chúng.
Đây là loài đặc trưng trong họ Rắn lục Viperidae có hiện tượng “đẻ con trứng” vì noãn trong buồng trứng của loài này đã phát triển thành con trong bụng mẹ khi đẻ ra con non chui khỏi vỏ trứng phát triển mà không qua giai đoan ấp ở môi trường, nhiệt độ bên ngoài như một số loài rắn khác. Hiện tượng này khiến cho nhiều người hiểu lầm là loài rắn có khả năng đẻ ra con. Bò sát là những loài động vật đẻ trứng
Phân bố:
Trong nước: Đây là loài có mặt hầu như trên khắp lãnh thổ Việt Nam từ Cao Bằng cho đến Kiên Giang, Cà Mau.
Nước ngoài: Loài của châu Á nhiệt đới và phân bố trên khắp Thái Lan ngoài ra chúng còn có ở Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Cambodia, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn khá nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae