Rắn lục đuôi đỏ cardamon
| Tên tiếng Anh: | Cardamom mountains green pitviper |
|---|---|
| Tên Latin: | Trimeresurus cardamomensis |
| Đồng danh: | Trimeresurus macrops Kramer 1977 |
| Đồng danh: | Trimeresurus macrops Kramer 1977 |
| Đồng danh: | Trimeresurus macrops Kramer 1977 |
| Đồng danh: | Trimeresurus macrops Kramer 1977 |
| Tên khác: | Rắn lục cam bốt |
- Độ cao so mặt nước biển 300 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn
- Sinh thái Loài có nọc độc tế bào nguy hiểm chết người Ăn các loài lưỡng cư và gặm nhấm nhỏ Loài bò sát kiếm ăn ban đêm Bò sát đẻ con trứng
RẮN LỤC ĐUÔI ĐỎ CARDAMOM
Trimeresurus cardamomensis (Malhotra et al., 2011)
Trimeresurus macrops Kramer 1977
Họ: Rắn lục Viperidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Thân hình trụ, đầu hình tam giác ở mặt lưng và rất rõ từ cổ. Khoé mắt rõ. Vảy đầu nhỏ (có vảy lưng lớn), mịn ngoại trừ vùng thái dương, vùng giữa vảy môi trên và vừng thái dương, và phần sau đầu có kết sần. Vảy thân lưng kết sừng yếu. 171 vảy bụng. 63 cặp vảy đuôi, 21 vảy lưng ở giữa thân. Vảy mõm thô hình tam giác, mép trên rộng bằng một nủa mép dưới. Đồng tử dọc hình bầu dục. Xuất hiện hốc má. Mũi có vảy. Vảy mũi hoà lẫn với vảy môi trên đầu tiên, tạo ra đường nối tiếp sau mũi nhưng không hướng ra trước nó. Theo thứ tự 10 và 11 vảy môi trên ở bên phải và trái, theo thứ tự 13/12 vảy môi dưới. Ba vảy sau mắt. Phải quanh mép trước hốc má hoà lẫn với vảy môi trên thứ hai nhưng tách biệt với mũi bằng một vảy nhỏ ở bên này hoặc kia. Vảy dưới mắt chạm vảy môi trên thứ ba nhưng tách biệt với vảy thứ tư và năm bởi một vảy. Ít nhất 11 vảy giữa các vảy trên mắt, có 14 vảy giữa mép sau chúng.
Năm răng trên vòm miệng, 16 răng hàm bướm, 16 răng hàm dưới. Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 19.1 cm. Dài đuôi 5.6 cm. Dài đầu 18.75 mm. Rộng đầu 8.3 ỏ giữa mép ngoài sau của vảy trên mắt và 12.9 mm ở điểm rộng nhất của đầu. Vảy trên mắ dài 3.9 mm, rộng 1.55 mm. Khoảng cách từ mắt đến mũi 3.85 mm. Khoảng cách mắt hốc má 0.9 mm. Khoảng cách mép sau hốc má đến mép trước mũi 3.6 mm. Đường kính mắt 3.3 mm.
Màu khi sống; Mặt lưng và bụng có màu xanh lá, có sọc trắng dọc bên thân rõ hơn ở con đực, rải dài ở hàng vảy lưng thứ hai con dực (hàng thứ nhất ở con cái). Con cái có đốm xanh lam sáng ở phần sau hàng vảy đầu tiên, có xuất hiện ở một số con đực nhưng không rõ. Chỉ có con đực mới có sọc trắng bên thân trải dài lên đầu như sọc sau mắt. Môi trên nhạt hơn phần còn lại của đầu, rõ hơn ở con cái. Vảy môi dưới có màu xanh lam nhạt, hầu như rõ ở mép vảy. Mặt bụng của đầu đến phần đầu của thân cũng có vảy màu xanh lam nhạt. Rải rác một vài đốm trắng và xanh nhỏ ở trên vảy ở mặt dưới của đầu. Da kẽ vảy màu xanh lam sáng. Vết đen đôi lúc có ở trước thân, vảy ở đây có méo đen hẹp ở đáy. Đuôi màu đỏ gạch đến ngang lỗ huyệt ở mặt lưng, đến 1/3 (ở con đực), một nửa (ở con cái) khoảng cách đến lỗ huyệt ở mặt bụng. Mắt màu vàng ở con đực và cái.
Cryptelytrops cardamomensis khác các loài rắn lục đuôi đỏ Cryptelytrops sp. ở các đặc điểm sau:
Cryptelytrops cardamomensis khác với Cryptelytrops venustus, Cryptelytrops honsonensis và Cryptelytrops kanburiensis vì không có vệt đỏ tím (vết trên thân và đầu).
Khác các loài Cryptelytrops albolabris, Cryptelytrops insularis và Cryptelytrops septentrionalis ở kích thước mắt, vảy trên mắt rộng hơn và hình dạng đầu hình tam giác (các loài kia đầu thon bầu dục).
Cryptelytrops cardamomensis khác Cryptelytrops macrops và Cryptelytrops rubeus \bởi các đặc điểm: Con đực C. cardamomensis có nhiều vảy hơn ở giữa mép sau của vảy trên mắt, kích thước mắt to hơn và sọc trắng sau mắt nổi bật hơn hai loài kia.
Hơn nữa, so với Cryptelytrops macrops, nó có số hàng quanh thân giảm từ 19 xuống còn 17 dẫn đến ít vảy sừng ở vùng thái dương và ít vảy quanh môi trên lên hơn.
So với loài Cryptelytrops rubeus, sự giảm số hàng vảy từ 19 xuống 17 quanh thân khiến những hàng vảy cao hơn. Nó có khuynh hướng có nhiều vảy sừng ở giữa thân và nhiều vảy giữa vảy cuối môi trên và vảy cằm.
Ở con cái, sọc trắng bên thân rõ hơn, luôn chạm hai hàng vảy lưng đầu tiên. Hơn nữa nó có khuynh hướng phủ lên phần lớn hàng vảy đầu tiên ở con cái của Cryptelytrops macrops. Một vảy nhỏ xuất hiện giữa vảy mũi và vảy quanh mép trước của hốc má, nơi mà không thường xuất hiện ở Cryptelytrops macrops và không bao giờ xuất hiện ở Cryptelytrops rubeus
Crytpelytrops cardamomensis có nhiều vảy quanh môi trên hơn Cryptelytrops rubeus nhưng ít hơn (rộng hơn) Cryptelytrops macrops. Giảm hàng vảy từ 19 xuống 17 khiến có sự hoà lẫn giữa môi đầu tiên và vảy mũi và dẫn đến đường giáp nối một phần ở cả hai bên mũi hơn là ở Cryptelytrops macrops hoặc Cryptelytrops rubeus
Hơn nữa, so với Cryptelytrops macrops, giảm hàng vảy quanh thân từ 19 xuống còn 17 khiến nó có nhiều vảy hơn giữa mép sau vảy trên mắt và nhiều vảy môi dưới hơn, kích thước mắt nhỏ hơn.
So với Cryptelytrops rubeus, nó có nhiều vảy sừng ở giữa thân hơn. Hàng vảy quanh đuôi giảm từ 12 xuống còn 10 hàng. Khiến cho vảy bụng của con cái loài Cryptelytrops cardamomensis có nhiều hơn con cái loài Cryptelytrops rubeus
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát kiếm ăn đêm thường sống ở khu vực rừng thường xanh còn tốt. Xuất hiện quanh các khu vực vũng nước trong rừng để tìm kiếm thức ăn, săn mồi gồm các loài Lưỡng cư sống trong khu vực phân bố …Chỉ thường gặp vào mùa mưa, hầu như chưa gặp vào mùa khô. Sống cùng sinh cảnh với loài rắn lục đuôi đỏ Trimeresurus albolabris. Tên loài được đặt cho dãy núi Cardamom ở Cambodia nơi loài này được phát hiện hiện. Loài rắn độc nguy hiểm với nọc độc dạng tế bào, có thể gây chết người.
Phân bố:
Trong nước: Các mẫu vật của loài này được thu ở sinh cảnh các vùng rừng trên núi đất thấp 50m ỡ đảo Phú Quốc cho tới độ cao khoảng 1.080 m so với mực nước biển, dãy núi Cardamom ở Cambodia.
Nước ngoài: Cambodia, Thái Lan.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn khá nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm cỏ cánh sau đỏ
Tên tiếng Anh:Red rierrot
Tên Latin:Talicada nyseus
Bướm giáp lớn
Tên tiếng Anh:Common cruiser
Tên Latin:Vindula erota
Trà đốm đen
Tên tiếng Anh:Few-dotted camellia
Tên Latin:Camellia paucipunctata
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae