TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Hồ Thu Cúc

Rắn lục đầu bạc kharin

Tên tiếng Anh: Kharin's viper
Tên Latin: Azemiops kharini
Đồng danh: Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013
Đồng danh: Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013
Đồng danh: Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013
Đồng danh: Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013
Tên khác: Rắc lục đầu bạc núi cao
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN LỤC ĐẦU BẠC KHARIN

Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013
Họ Rắn lục Viperidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn lục có kích thước trung bình, tổng chiều dài lên đến 980 mm. Đầu phân biệt với cổ, phẳng rõ, được phủ bởi những tấm vảy đối xứng nhau. Đầu hình thang, có mõm ngắn hơi tròn. Lỗ mũi nằm trên một vảy mũi. Có vảy má. Mắt khá nhỏ, có con ngươi dọc. Thân có tiết diện gần tròn, lưng hơi phẳng phía lưng bụng. Vảy bụng tròn. Các vảy mịn, xếp thành 17 hàng giữa thân. Đuôi ngắn. Vảy dưới đuôi xếp thành hai hàng. Vảy bụng 183 – 199. Vảy huyệt nguyên. Vảy dưới đuôi 49 – 51 phân đôi. Mặt trên của đầu (từ các vảy trước trán) màu trắng, có hai sọc dọc màu đen. Cơ chân bướm có 14 răng. Răng góc hàm rất nhỏ, ngắn hơn răng hàm dưới. Răng hàm dưới 15 – 16 chiếc. Xương vuông dài, trực tiếp hướng lên và xuống, các khớp có cơ chân bướm mà có 14 răng. Thân có 186 – 201 đốt sống, đuôi có 46 – 51 đốt sống.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở rừng tre và dương xỉ rậm, rải rác có những khoảng trống đầy nắng và thoáng ở độ cao trên 1000m. Chúng thường sống ở thảm mục lá rụng quanh gốc cây. Rắn lục feae Azemiops feae từng bị nhầm lẫn với Azemiops kharini mặc dù chúng rất dễ phân biệt bằng màu sắc của đầu. Tuy nhiên một số chuyên gia nghiên cứ về rắn cho rằng Azemiops kharini có thể là một biến thể màu sắc của Azemiops feae (Teynié và cộng sự. 2017). Ông đã tìm thấy nhiều mẫu vật kết hợp các đặc điểm của Azemiops feae và Azemiops kharini (tức là chúng trông giống như các giống lai hoặc chuyển cấp). Cần phải kiểm tra và review lại tập tính, sinh thái, vùng phân bố và các đặc điểm khác biệt chi tiết giữa Azemiops feae và Azemiops kharini. Azemiops kharini được đặt tên để vinh danh nhà động vật học người Nga đã qua đời Vladimir Kharin, người có đóng góp to lớn cho việc nghiên cứu quần thể cá và bò sát, bao gồm cả rắn, ở châu Á.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng (Nguyên Bình), Tuyên Quang (Na Hang), Bắc Kạn (Ngân Sơn), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Lạng Sơn (Mẫu Sơn).
Nước ngoài: Đông Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Tây, Quý Châu, miền đông Tứ Xuyên, Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tây, Thiểm Tây, Hồ Nam), Lào.
Giá trị:
Là loài rắn độc, có giá trị khoa học và thẩm mỹ và là loài trong cùng một khoảng thời gian có thể sản sinh ra 2 loài nọc độc thần kinh và nọc độc tế bào nên rất nguy hiểm đến con người.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận ở vùng núi Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai; số địa điểm ghi nhận phân bố ở Việt Nam hiện tại là 1 nhưng vùng phân bố thực tế có thể rộng hơn ở dãy Hoàng Liên; kích cỡ quần thể nhỏ, rất hiếm gặp; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, phát triển du lịch và xâm lấn đất rừng; loài này cũng bị săn bắt để nuôi làm cảnh nhưng không phổ biến.
Phân hạngVU D2.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có nằm trong VQG Tam Đảo, Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang, Vườn quốc gia Pia Oắc – Phi Đén, nên hạn chế được tác động. Nhưng thực tế vẫn rất cần bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng và du lịch..

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae