Rắn lục đầu bạc kharin
| Tên tiếng Anh: | Kharin's viper |
|---|---|
| Tên Latin: | Azemiops kharini |
| Đồng danh: | Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013 |
| Đồng danh: | Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013 |
| Đồng danh: | Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013 |
| Đồng danh: | Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013 |
| Tên khác: | Rắc lục đầu bạc núi cao |
- Độ cao so mặt nước biển 1200 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Lào Trung Quốc Cao Bằng Lạng Sơn Bắc Kạn Vĩnh Phúc Tuyên Quang Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, Việt Nam Vườn quốc gia Tam Đảo, Việt Nam Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Tuyên Quang
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
- Tình trạng bảo tồn Sắp nguy cấp VU: Vulnerable Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài có nọc độc tế bào nguy hiểm chết người Ăn các loài lưỡng cư và gặm nhấm nhỏ Loài bò sát kiếm ăn ban đêm
RẮN LỤC ĐẦU BẠC KHARIN
Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013
Họ Rắn lục Viperidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn lục có kích thước trung bình, tổng chiều dài lên đến 980 mm. Đầu phân biệt với cổ, phẳng rõ, được phủ bởi những tấm vảy đối xứng nhau. Đầu hình thang, có mõm ngắn hơi tròn. Lỗ mũi nằm trên một vảy mũi. Có vảy má. Mắt khá nhỏ, có con ngươi dọc. Thân có tiết diện gần tròn, lưng hơi phẳng phía lưng bụng. Vảy bụng tròn. Các vảy mịn, xếp thành 17 hàng giữa thân. Đuôi ngắn. Vảy dưới đuôi xếp thành hai hàng. Vảy bụng 183 – 199. Vảy huyệt nguyên. Vảy dưới đuôi 49 – 51 phân đôi. Mặt trên của đầu (từ các vảy trước trán) màu trắng, có hai sọc dọc màu đen. Cơ chân bướm có 14 răng. Răng góc hàm rất nhỏ, ngắn hơn răng hàm dưới. Răng hàm dưới 15 – 16 chiếc. Xương vuông dài, trực tiếp hướng lên và xuống, các khớp có cơ chân bướm mà có 14 răng. Thân có 186 – 201 đốt sống, đuôi có 46 – 51 đốt sống.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở rừng tre và dương xỉ rậm, rải rác có những khoảng trống đầy nắng và thoáng ở độ cao trên 1000m. Chúng thường sống ở thảm mục lá rụng quanh gốc cây. Rắn lục feae Azemiops feae từng bị nhầm lẫn với Azemiops kharini mặc dù chúng rất dễ phân biệt bằng màu sắc của đầu. Tuy nhiên một số chuyên gia nghiên cứ về rắn cho rằng Azemiops kharini có thể là một biến thể màu sắc của Azemiops feae (Teynié và cộng sự. 2017). Ông đã tìm thấy nhiều mẫu vật kết hợp các đặc điểm của Azemiops feae và Azemiops kharini (tức là chúng trông giống như các giống lai hoặc chuyển cấp). Cần phải kiểm tra và review lại tập tính, sinh thái, vùng phân bố và các đặc điểm khác biệt chi tiết giữa Azemiops feae và Azemiops kharini. Azemiops kharini được đặt tên để vinh danh nhà động vật học người Nga đã qua đời Vladimir Kharin, người có đóng góp to lớn cho việc nghiên cứu quần thể cá và bò sát, bao gồm cả rắn, ở châu Á.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng (Nguyên Bình), Tuyên Quang (Na Hang), Bắc Kạn (Ngân Sơn), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Lạng Sơn (Mẫu Sơn).
Nước ngoài: Đông Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Tây, Quý Châu, miền đông Tứ Xuyên, Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tây, Thiểm Tây, Hồ Nam), Lào.
Giá trị:
Là loài rắn độc, có giá trị khoa học và thẩm mỹ và là loài trong cùng một khoảng thời gian có thể sản sinh ra 2 loài nọc độc thần kinh và nọc độc tế bào nên rất nguy hiểm đến con người.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận ở vùng núi Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai; số địa điểm ghi nhận phân bố ở Việt Nam hiện tại là 1 nhưng vùng phân bố thực tế có thể rộng hơn ở dãy Hoàng Liên; kích cỡ quần thể nhỏ, rất hiếm gặp; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, phát triển du lịch và xâm lấn đất rừng; loài này cũng bị săn bắt để nuôi làm cảnh nhưng không phổ biến.
Phân hạng: VU D2.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có nằm trong VQG Tam Đảo, Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang, Vườn quốc gia Pia Oắc – Phi Đén, nên hạn chế được tác động. Nhưng thực tế vẫn rất cần bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng và du lịch..
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Chuột chũi vòi fansipan
Tên tiếng Anh:Fansipan shrew mole
Tên Latin:Uropsilus fansipanensis
Chuột nhím đuôi dài
Tên tiếng Anh:Shrew gymnure
Tên Latin:Neotetracus sinensis
Thông đuôi ngựa
Tên tiếng Anh:Horsetail pine
Tên Latin:Pinus massoniana
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae