TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phạm Thế Cường

Rắn lục cườm

Tên tiếng Anh: Brown spotted pitviper
Tên Latin: Protobothrops mucrosquamatus
Đồng danh: Trigonocephalus mucrosquamatus Cantor, 1839
Đồng danh: Trimeresurus mucrosquamatus Gunther, 1864
Đồng danh: Trigonocephalus mucrosquamatus Cantor, 1839
Đồng danh: Trimeresurus mucrosquamatus Gunther, 1864
Tên khác: Rắn mộc khô
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN LỤC CƯỜM

Protobothrops mucrosquamatus (Cantor, 1839)
Trigonocephalus mucrosquamatus Cantor, 1839
Trimeresurus mucrosquamatus Gunther, 1864
Họ: Rắn lục Viperidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn có kích thước trung bình, chiều dài trung bình (cá thể trưởng thành) khoảng 80 – 120 cm. Chiều dài tối đa ghi nhận từ 150 đến 155 cm, cá thể vượt quá 140 cm khá hiếm. Con non khi mới sinh dài khoảng 22 – 28 cm. Mõm hai lần dài hơn đường kính mắt. Vảy trên đầu rất bé, xếp cạnh nhau. Tấm trên ổ mắt dài và hẹp, nguyên, dài hơn chiều dài ổ mắt một chút; có 14 – 16 vảy trung gian giữa các tấm trên ổ mắt. Tấm gian mũi dài, hình bầu dục, dài hơn các vảy bên cạnh 2 – 2,5 lần; có 2 vảy nhỏ giữa hai tấm gian mũi. Có 3 vảy dọc theo đường giữa tấm gian mũi và tấm trên mắt. Tấm dưới mắt dài và hẹp, cách biệt với các tấm mép trên bởi 2 hàng vảy nhỏ. Vùng thái dương có 3 hàng vảy rộng, nhẵn. Có 9 tấm mép trên mỗi bên, tấm mép trên thứ nhất tách biệt với tấm mũi, tấm thứ hai tạo thành viền trước hố má, tấm thứ ba dài nhất; 14 – 15 tấm mép dưới ở mỗi bên. Có 1 cặp tấm sau cằm tiếp xúc với tấm mép dưới thứ nhất và thứ hai. Vảy thân 25: 25: 19 hàng, có gờ rõ; 216 vảy bụng; 92 vảy dưới đuôi kép. Tấm hậu môn nguyên.
Thân màu nâu sáng. Mặt trên đầu, vùng mõm đến cạnh sau của hàm và mặt dưới đầu màu nâu sẫm. Có một vệt trắng từ phía sau của mắt kéo dài đến khớp lồi của hàm, phía dưới là một vệt đen hẹp hơn. Dọc giữa hai bên sống lưng đến 1/2 chiều dài phía trước thân có các đốm màu nâu đen, nửa phía sau thân các đốm này xếp xen kẽ nhau. Hai bên thân ngang với các đốm trên lưng có các vệt nâu đen kéo xuống sát tấm bụng và khác biệt hoa văn phần lưng với Rắn chàm quạp Calloselasma rhodostoma, Rắn lục núi Ovophis monticola.
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường sống ở sinh cảnh rừng thứ sinh, ven suối thuộc khu vực suối. Thức ăn là các loài thú ăn thịt nhỏ và các loài ếch nhái sống trong khu vực phân bố. Gặp ở độ cao thấp đến 1.000 m. Kiếm ăn đêm, ban ngày chiu rúc trong hang, hốc và dưới các thảm mục thực vật. Loài rắn cực độc, nọc độc tế bào của chúng có thể gây nguy hiểm chết người.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nội (Vườn quốc gia Ba Vì), Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế (khu vực xung quanh trụ sở Vườn quốc gia Bạch Mã), Kontum, Gia Lai.
Nước ngoài: Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Myanmar, Lào, Thái Lan.
Giá trị:
Loài này có gía trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng ít phổ biến, nhưng cần quan tâm bảo về và nghiên cứu sinh thái, tập tính cũng như huyết thanh kháng độc để chữa trị cho người bị loài rắn này cắn.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại cá Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae