Rắn leo cây ngân sơn
| Tên tiếng Anh: | Nganson bronzeback |
|---|---|
| Tên Latin: | Dendrelaphis ngansonensis |
| Đồng danh: | Dendrophis pictus ngansonensis Bourret, 1935 |
| Đồng danh: | Dendrophis pictus ngansonensis Bourret, 1935 |
| Đồng danh: | Dendrophis pictus ngansonensis Bourret, 1935 |
| Đồng danh: | Dendrophis pictus ngansonensis Bourret, 1935 |
| Tên khác: | Rắn leo cây hoa |
- Độ cao so mặt nước biển 1500 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Ăn các loài lưỡng cư và gặm nhấm nhỏ Loài bò sát kiếm ăn ban đêm Kiếm ăn trên cây gỗ nhỏ, bụi rậm trong rừng
RẮN LEO CÂY NGÂN SƠN
Dendrelaphis ngansonensis (Bourret, 1935)
Dendrophis pictus ngansonensis Bourret, 1935
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Cơ thể có kích thước trung bình, hóp, đuôi có dạng cái roi. Đầu thon dài, hơi phân biệt với cổ. Mắt lớn, con ngươi tròn. Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 824 mm, dài đuôi 419 mm. 25 răng hàm dưới. 15 – 15 – 15 hàng vảy giữa lưng ; 188 vảy bụng, 153 vảy dưới đuôi. Các vảy xương sống nở rộng. Lưng màu nâu vàng đồng. Có sọc đen rõ từ mép sau mắt đến cổ. Các vảy trên mặt lưng bên của cổ và phần trước của thân có viền màu xanh dương.
Sự khác biệt giữa 3 loài thuộc Giống Dendrelaphis ở Việt Nam như sau:
Dendrelaphis pictus – Có hai vảy dưới mắt; có sọc trắng bên hông.
Dendrelaphis ngansonensis – Có hai vảy dưới mắt; không có sọc trắng bên hông.
Dendrelaphis subocularis – Có một vảy dưới mắt.
Sinh học, sinh thái:
Thường sống leo trèo, ngủ, tìm kiếm thức ăn chủ yếu ở trên cây. Ít gặp xuống mặt đất. Thức ăn là những loài lưỡng cư sống ở trên cây, trứng, chim non. Con cái đẻ 8 trứng trong các hốc cây. Nhiệt độ môi trường sẽ quyết định giới tính của rắn con.
Phân bố:
Trong nước: Ngân Sơn thuộc tỉnh Bắc Cạn. An Giang, Cao Bằng, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hải Phòng, Hòa Bình, Kiên Giang, Lai Châu, Lâm Đồng, Lào Cai, Tuyên Quang. Tên loài được đặt theo vùng phân bố của loài này phát hiện và công bố.
Nước ngoài: Lào (Xieng khouang), Thái Lan, Trung Quốc (Vân Nam), Campuchia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn nhiều trong tự nhiên. Tuy nhiên gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Hải sâm vú
Tên tiếng Anh:Black teatfish
Tên Latin:Holothuria nobilis
Răn mai gầm buch
Tên tiếng Anh:Dalat dwarf snake
Tên Latin:Calamaria buchi
Chuột chũi orlov
Tên tiếng Anh:Orlov's mole
Tên Latin:Euroscaptor orlovi
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae