TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn lác

Tên tiếng Anh: Crab-eating water snake
Tên Latin: Fordonia leucobalia
Đồng danh: Homalopsis leucobalia Schlegel, 1837
Đồng danh: Hemiodontus chalybaeus Jan, 1863
Đồng danh: Fordonia bicolor Theobald, 1868
Đồng danh: Homalopsis leucobalia Schlegel, 1837
Tên khác: Rắn ăn cua
  • Độ cao so mặt nước biển 10 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN LÁC

Fordonia leucobalia (Schlegel, 1837)
Homalopsis leucobalia Schlegel, 1837
Hemiodontus chalybaeus Jan, 1863
Fordonia bicolor Theobald, 1868
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Tổng chiều dài lên đến 900 mm. Thân hình trụ. Đầu không phân biệt với cổ. Các vảy mũi tách biệt bởi một vảy gian mũi. Vảy gian mũi 1. Vảy mũi bán phân đôi. Vảy môi trên 5 hoặc 6, trong đó vảy thứ 3 hoặc thứ 2 và thứ 3 chạm mắt. Không có vảy má. Vảy trước mắt 1. Vảy sau mắt 1 – 2. Vảy trước thái dương 2. Ba vảy môi dưới đầu tiên nối với tấm vảy cằm phía trước. Cặp vảy thứ hai nếu có thì nối với cặp tấm vảy cằm còn lại. Vảy lưng mịn, xếp thành 25 – 27: 25 – 29: 21 – 23 hàng. Vảy bụng 137 – 159, trong đó vảy cuối thứ nhất hoặc hai có thể chia đôi. Vảy huyệt chia đôi. Vảy dưới đuôi 27 – 43, chia đôi. Cơ quan bán sinh dục trải dài đến vảy thứ 14 Màu sắc trong tự nhiên: Hoa văn của lưng thay đổi theo vùng địa lý phân bố.. Lưng màu xám đục đến đen, có đốm đen đối với những cá thể phân bố ở Nam Á và Đông Nam Á. Các cá thể ở Úc và New Guinea lại có màu sắc thay đổi giữa hai màu khoang trắng và đen hoặc vàng, đỏ hoặc cam với những đốm đen hoặc vệt trắng viền đen. Bụng trắng. Đuôi ngắn Thân hình trụ to chắc có vảy trơn láng. Chúng là loài rắn có nhiều kiểu biến thể màu sắc như màu xám, nâu hay đen đỏ tía nhạt, có hoặc không có các chấm tròn đen trên bụng màu trắng pha vàng nhạt. Rắn con có những chấm tròn sậm màu nằm rãi rác.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chính của chúng là săn bắt những con cá nhỏ và cua. Có tập tính đẻ con trứng. Trứng thụ tinh từ tháng sáu đến tháng bảy, hình thành con non trong trứng từ tháng tám đến tháng 2 năm sau. Con non được sinh ra sau mùa đông cho đến những tháng mùa hè. Mỗi lứa đẻ từ 6 – 15 con, mỗi con dài 18cm. Loài rắn ăn đêm này sống ở các con sông chịu ảnh hưởng của thủy triều và các khu vực ven biển và các khu rừng ngập mặn nơi có nhiều những đám cây Cỏ lác phân bố. Tên loài được đặt theo nghĩa leukos (màu trắng) của Hy Lạp cộng với balios (lốm đốm), ám chỉ màu sắc trên cơ thể chúng.
Phân bố:
Trong nước: Sóc Trăng, Cà Mau (Năm Căn, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau).
Nước ngoài: Úc (Lãnh thổ phía Bắc, Queensland, Tây Úc) Bangladesh; Ấn Độ (Bengal); Indonesia (Borneo, Irian Jaya, Seram, Sumatra, Java; Timor, Ambon); Timor-Leste, Malaysia (Malaya và Đông Malaysia); Myanmar, Papua New Guinea, Philippin (Mindanao); Singapore, Thái Lan, Campuchia
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài thường gặp trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae