Rắn lá khô thường
| Tên tiếng Anh: | MacClelland’s coral snake |
|---|---|
| Tên Latin: | Sinomicrurus macclellandi |
| Đồng danh: | Elaps personatus Blyth, 1855 |
| Đồng danh: | Callophis macclellandii Anderson, 1871 |
| Đồng danh: | Hemibungarus macclellandi Gholay et al., 1993 |
| Đồng danh: | Micrurus macclellandi Welch, 1994 |
| Tên khác: | Rắn san hô MacClelland |
- Độ cao so mặt nước biển 1600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Thái Lan Ấn Độ Cao Bằng Lạng Sơn Hà Nội Vĩnh Phúc Kontum Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, Kontum Lâm Đồng Lào Cai Thái Nguyên Vườn quốc gia Ba Vì, Việt Nam Vườn quốc gia Tam Đảo, Việt Nam Bangladesh
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài có nọc độc thần kinh nguy hiểm chết người Ăn các loài lưỡng cư và gặm nhấm nhỏ Loài bò sát kiếm ăn ban đêm
RẮN LÁ KHÔ THƯỜNG
Sinomicrurus macclellandi (Reinhardt, 1844)
Elaps personatus Blyth, 1855
Callophis macclellandii Anderson, 1871
Hemibungarus macclellandi GHolay et al., 1993
Micrurus macclellandi Welch, 1994
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn nhỏ, con đực có kích thước trung bình khoảng 40 – 60 cm chiều dài, một vài cá thể dài đến 80 cm. Con cái, thân mảnh, hình trụ, có chiều dài tổng 387 mm (dài thân 355 mm, dài đuôi 32 mm). Đầu không phân biệt rõ với cổ. Vảy lưng mịn, 13 – 13 – 13 hàng. Vảy bụng 242, vảy huyệt phân chia. Vảy dưới đuôi 25, phân chia. Vảy trước mắt 1, chạm vảy mũi. Vảy sau mắt 2. Vảu thái dương 1+1. Vảy môi trên 6. Vảy môi dưới 7, trong đó vảy thứ ba và bốn chạm mắt, vảy thứ 5 và 6 chạm vảy thái dương phía trước. Mắt đen nhỏ có đồng tử tròn. Có đốm trắng nổi bật giữa các vệt đen lớn ở trên đầu phía sau mắt. Có vạch gáy và các vằn trên bụng. Không có hoa văn trên lưng. Chỉ có ba sọc ngang thấy được từ phần phía sau cùng của thân và ba sọc ngang khác ở đuôi. Các đốm đen không đều có ở bụng. Đuôi ngắn, có chót nhọn.
Loài này có ba biến thể màu sắc:
Biến thể 1: Lưng màu nâu đỏ bóng, có sọc ngang hẹp, đều, màu đen mà có thể kéo xuống hụng. Vạch gáy hướng ra sau và chạm phần sau của vảy trán. Không có dãy đốm đen nhỏ ở mỗi bên lưng giữa các sọc. Bụng có các đốm hình tứ giác và sọc ngang.
Biến thể 2: Giống biến thể 1, nhưng sọc ngang màu đen giảm xuống thành những đốm xương sống ngang và một dãy các đốm lớn dọc giữa bụng. Vòng và đốm sẫm mãu có thể xuất hiện hoặc không có ở đuôi. Hoa văn trên đầu có vệt đen, 3 chấm rõ, hai vết méo ngoài của chẩm chạm vảy trên mắt phía sau và một ở giữa.
Biến thể 3: Đều màu nâu đỏ ở lưng, không có vằn ngang hoặc đốm xương sống. Bụng có dãy vệt dọc thân. Hoa văn đầu tương tự như biến thể 2.
Sinh học, sinh thái:
Loài rắn kiếm ăn đêm này thường săn các loài rắn khác và thằn lằn và thường sống ở nơi đất thấp ở các khu vực rừng thường xanh núi cao có độ cao trên 1.000m. Sống chui rúc dưới những đám thảm mục thực vật trong rừng. Loài này có độc tố, khi bắt con mồi nọc độc thần kinh sẽ làm tê liệt con mồi trước khi nuốt. Mặc dù là loài rắn rất hiền lành nhưng chúng sở hữu một chất độc thần kinh mạnh. Đã ghi nhận nọc độc của chúng gây ra một vài trường hợp tử vong ở Thái Lan. Sinh sản vào cuối mùa mưa và con cái đẻ từ 10 – 14 trứng. Trứng được vùi trong lớp thảm mục thực vật trong rừng.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng (Ngân Sơn), Lào Cai (Sapa), Thái Nguyên (Bắc Kạn, Ký Phú), Lạng Sơn, Vĩnh Phú (Khả Cửu, Tam Đảo), Hà Nội (Vườn quốc gia Ba Vì), Thừa thiên Huế, Lâm Đồng (Đà Lạt) Kontum (Ngọc Linh)
Nước ngoài: Ấn Độ (Assam, Manipur, Mizoram, Nagaland), Nepal độ cao 1.000 – 2.000 m Bangladesh (Moulvibazar, Sunamganj), Thái Lan
Tình trạng:
Số lượng ít, hiếm cần được quan tâm, bảo vệ chúng trong tự nhiên. Tên loài được đặt theo tên Tiến sĩ John MacClelland (1805 – 1875), người từng làm việc cho Công ty Đông Ấn. Tên giống được đặt theo tên “sino”, tiếng Hy Lạp có nghĩa là “liên quan đến Trung Quốc” và Micrurus theo Wagler (1824).
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài ít gặp trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Tài liệu dẫn: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm sọc bạc liền
Tên tiếng Anh:Long-banded silverline
Tên Latin:Spindasis lohita
Rắn khuyết dải nhỏ
Tên tiếng Anh:Rendahl's wolf snake
Tên Latin:Lycodon paucifasciatus
Bò biển
Tên tiếng Anh:Dugong
Tên Latin:Dugong dugon
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae