TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn khuyết lào

Tên tiếng Anh: Laotian wolf snake
Tên Latin: Lycodon laoensis
Đồng danh: Ophites laoensis Zhao & Adler, 1993
Đồng danh: Ophites laoensis Zhao & Adler, 1993
Đồng danh: Ophites laoensis Zhao & Adler, 1993
Đồng danh: Ophites laoensis Zhao & Adler, 1993
Tên khác: Rắn khuyết khoang vàng
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN KHUYẾT LÀO

Lycodon laoensis Gunther, 1864
Ophites laoensis Zhao & Adler, 1993
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước nhỏ, cá thể trưởng thành có chiều dài cơ thể từ 45 đến 65 cm, hai mắt to, tròn đặc trưng với đồng tử nổi bật. Phần đầu hẹp và dài với hình dạng hơi dẹt. Vảy mịn, tạo vẻ ngoài bóng, phía trước mép trên có màu xanh dương sẫm, phía sau mép và cằm màu kem. Phần đầu nằm sát với cổ có một khoanh màu vàng. Thân màu đen được chia ra bởi 13 – 29 khoanh màu vàng và 8 – 18 khoanh vàng đen ở phần đuôi. Các khoanh màu đen, vàng ở phía trước rộng hơn các khoanh phía sau. Các khoanh màu vàng ở phía càng gần đuôi có xu hướng hẹp lại so với các khoanh màu đen. Phần bụng có vảy màu trắng.
Sinh học, sinh thái:
Rắn khuyết lào thường tìm kiếm thức ăn vào ban đêm. Chúng ăn thằn lằn, ếch, nhái đôi khi cá các loài thú nhỏ. Đây là loài có ích cho nông nghiệp. Con cái đẻ mỗi lần khoảng 5 trứng. Loài bò sát kiếm ăn đêm chưa được biết đến nhiều này thường giấu mình dưới các đống đổ nát, trong bóng râm vào ban ngày. Chúng thường sống ở vùng đất thấp và các vùng đồi núi hay chui rúc trong các bọng cây Đa, Si cổ thụ trong rừng.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Nam – Đà Nẵng (Chu Lai), Lâm Đồng (Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, Hầu khắLangbiang), Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai (Định Quán, Vườn quốc gia Cát Tiên), thành phố Hồ Chí Minh.
Nước ngoài: Loài này hầu như có mặt khắp Thái Lan, phía Bắc bán đảo Mã Lai, Lào, Cambodia, Myanma.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài thường gặp trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường, Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Quảng Trường. Hoàng Ngọc Thảo – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae