Rắn khuyết khoanh
| Tên tiếng Anh: | Malayan banded wolf snake |
|---|---|
| Tên Latin: | Lycodon neomaculatus |
| Đồng danh: | Anoplophallus maculatus Cope 1895 |
| Đồng danh: | Lycodon subcinctus Stejneger 1926 |
| Đồng danh: | Anoplophallus subcinctus Wallach et al., 2014 |
| Đồng danh: | Lycodon maculatus Liu et al., 2023 |
| Tên khác: | Rắn khuyết mã lai |
- Độ cao so mặt nước biển 700 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Cao Bằng Hà Nội Tây Ninh Thanh Hóa Hầu khắp các nước Đông dương (Thái Lan) Tây bắc và Đông bắc Việt Nam Vườn quốc gia Ba Vì, Việt Nam Vườn quốc gia Bến En, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng núi đá vôi Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Ăn các loài lưỡng cư và gặm nhấm nhỏ Loài bò sát kiếm ăn ban đêm
RẮN KHUYẾT KHOANH
Lycodon neomaculatus (Nguyen et al., 2024)
Anoplophallus maculatus Cope 1895
Lycodon subcinctus Stejneger 1926
Anoplophallus subcinctus Wallach et al., 2014
Lycodon maculatus Liu et al., 2023
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Rắn khuyết khoanh là loài thay đổi hoa văn trên cơ thể của chúng theo tuổi. Các con nhỏ có tới 20 khoanh màu trắng nhưng khi chúng trưởng thành thì các khoanh màu này từ từ biến mất, những khoanh trắng phía sau nhạt đi trước. Con lớn màu nâu đậm hoặc màu đen với những khoanh màu trắng rộng. Phần phía trước sẽ trở nên sậm màu hơn cho tới khi phần sau của thân chuyển sang màu đen đồng nhất. Loài này trông giống loài rắn độc Bungarus candidus, nhưng nó có vảy hơi gồ. Sống lưng không rộng và vảy nằm trong dải màu trắng không có viền đen.
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường sống ở các khu vực khô ráo, và đã gặp ở độ cao trên 1.770m. Là loài ăn đêm và sống trên cạn, thức ăn chủ yếu của chúng được biết đến là thạch sùng và thằn lằn bóng chân ngắn; đôi khi chúng còn ăn ếch nhái và các loài chim, thú nhỏ khác. Con cái đẻ 5 – 11 trứng và trứng nở sau 10 – 12 tuần ấp; rắn con dài khoảng 24cm.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng (Ngân Sơn), Lai Châu (Mường Tè, Hà Nội (Vườn quốc gia Ba Vì), Thanh Hoá (Vườn quốc gia Bến En), Tây Ninh, Đồng Nai
Nước ngoài: Nó có mặt hầu hết trên khắp Đông nam châu Á như Thái Lan, Myanmar, Lào, Cambodia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài thường gặp trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường, Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Quảng Trường. Hoàng Ngọc Thảo – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bồ câu nâu
Tên tiếng Anh:Pale-capped pigeon
Tên Latin:Columba punicea
Hoàng đàn giả
Tên tiếng Anh:Sempilor tree
Tên Latin:Dacrydium elatum
Trèo cây trán đen
Tên tiếng Anh:Beautiful nuthatch
Tên Latin:Sitta formosa
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae