TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Rắn khiếm mouho

Tên tiếng Anh: Mouhot’s kukri snake
Tên Latin: Oligodon mouhoti
Đồng danh: Simotes mouhoti Boulenger, 1914
Đồng danh: Holarchus mouhoti Bourret, 1937
Đồng danh: Simotes mouhoti Boulenger, 1914
Đồng danh: Holarchus mouhoti Bourret, 1937
Tên khác: rắn khiếm đẹp
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN KHIẾM MOUHO

Oligodon mouhoti (Boulenger, 1914)
Simotes mouhoti Boulenger, 1914
Holarchus mouhoti Bourret, 1937
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn humo là loài bò sát nhỏ đẹp. Vảy mũi phân đôi. 2 vảy gian mũi. Có vảy má. 2 vảy sau mắt. Vảy thái dương 1+2. Vảy môi trên 8, trong đó vảy thứ tư và năm chạm mắt. Vảy môi dưới 9 hiếm khi 10. Vảy lưng 17 hàng. Vảy bụng 143 – 169, có góc cạnh ở phía mặt bên thân. Vảy huyệt nguyên. Vảy đuôi 29 – 47. Răng hàm trên 16. Cơ quan sinh dục đực đan chéo, có nhú lớn, không gai. Trong tự nhiên: Lưng màu xám đến nâu. Vệt trên đầu sẫm màu có một sọc mắt rất dày, đốm trán, đốm thái dương/chẩm cũng dày. Vạch chữ V hình tim tách khỏi đốm trên trán, thường nối với phần của sọc thái dương tạo thành vệt chữ W. Vệt chữ W cũng nối hoặc gián đoạn với các đốm trên chẩm. Vệt thái thương/vạch V nối với vảy bụng. Thân có sọc xương sống sáng màu, được bọc dọc bởi các sọc nâu. Một sọc bên thân giữa các hàng vảy 3 và 4. Bụng màu đỏ có đốm đen hình vuông rõ giới hạn đến các mép của vảy bụng. Hai đốm lưng màu đen trên đuôi, đáy và chót. Thân của chúng có màu nâu hay xám nhạt với một sọc nhạt trên sống lưng được viền bởi hai sọc màu nâu sáng chạy dọc hông thân. Một đường sọc màu nâu nhạt nhuyễn chạy dọc hàng vảy trên lưng thứ tư. Có hai khoanh màu đen đậm rõ rệt trên bề mặt của đuôi, một ở đáy đuôi, một trên đỉnh đuôi. Mặt trên bụng màu đỏ với các vạch đen, nhỏ, sắp xếp không đều nhau. Một sọc màu nâu đậm chạy từ phía sau mắt tới bụng. Đây là loài rắn trông giống loài Rắn san hô.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở các vùng đất thấp trong rừng rậm thường xanh và thường dấu mình trong các thảm mục thực vật, ẩm ướt. Kiếm ăn đêm. Thức ăn của loài này có thể là các loài lưỡng cư và thú nhỏ. Tên loài được đặt theo tên của Alexandre Henri Mouhot (1826 – 1861), một du khách người Pháp nổi tiếng vì đã khám phá lại Ankhor Wat ở Campuchia (khoảng năm 1859).
Phân bố:
Trong nước: Đắc Lắc (Nam Đà, Sông Bé (Thủ Dầu Một), Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên, Rừng phòng hộ đầu nguồn Tân Phú)
Nước ngoài: Chân núi phía Tây, phía Trung và phía Đông Thái Lan sang Campuchia và Lào
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài hiếm gặp trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae