TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn khiếm đuôi to

Tên tiếng Anh: Angel's kukri snake
Tên Latin: Oligodon macrurus
Đồng danh: Simotes violaceus macrurus Angel, 1927
Đồng danh: Holarchus violaceus macrurus Bourret, 1936
Đồng danh: Oligodon macrurus Smith, 1935
Đồng danh: Simotes violaceus macrurus Angel, 1927
Tên khác: Rắn khiếm thiên thần
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN KHIẾM ĐUÔI TO

Oligodon macrurus Angel,1927
Simotes violaceus macrurus Angel, 1927
Holarchus violaceus macrurus Bourret, 1936
Oligodon macrurus Smith, 1935
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata 

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước nhỏ. Đuôi dài bằng 1/3 tổng chiều dài. Lưng và đầu màu xám, sáng hơn ở hông sườn. Sọc nâu sẫm giữa mắt nối lên vảy thứ tư và năm của môi trên. Sọc nâu sẫm bắt đầu ở vùng chẩm chạy xuống sau vảy môi trên nhưng không chạm vảy bụng. Có đốm thâm trên trán và một đốm ở giữa các sọc đã nêu trên ở vùng chẩm. Có vạch chữ V ở cổ màu nâu sẫm, viền đen. Sọc ngang không rõ giảm đến đốm bên dãy xương sống và một số vằn không đều trên hông lưng. Vảy thứ hai và thứ ba cuối cùng của thân cùng màu xám có một ít đốm xương sống nhỏ bên trái. Đuôi có sọc xương sống sáng màu, viền xám. Bụng màu kem.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong các sinh cảnh rừng thường xanh rụng lá theo mùa, đôi khi gặp chúng ẩn náu trên cây Xoài trong những khu vườn của người dân trong vòng 20 m có suối nước sạch và đụn cát lớn có thảm cỏ thấp hơn 1m. Hoạt động kiếm ăn ban đêm, đặc biệt là sau những cơn mưa chúng bắt mồi nơi các vũng nước đọng trong rừng có các loài lưỡng cư xuất hiện.
Phân bố:
Trong nước: Loài này chỉ gặp ở Mũi Né thuộc tỉnh Bình Thuận, Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên, Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai). Vườn quốc gia Bù Gia Mập thuộc tỉnh Bình Phước.
Nước ngoài: Ấn Độ (Assam; Arunachal Pradesh, Mizoram), Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Tây Bắc Malaysia, Trung Quốc (phía tây tới Vân Nam, bao gồm Hồng Kông và Hải Nam, Quảng Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông)
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn gặp nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae