TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn khiếm deuve

Tên tiếng Anh: Deuve’s kukri snake
Tên Latin: Oligodon deuve
Đồng danh: Oligodon deuvei David, Vogel & Van Rooijen, 2008
Đồng danh: Oligodon deuvei David, Vogel & Van Rooijen, 2008
Đồng danh: Oligodon deuvei David, Vogel & Van Rooijen, 2008
Đồng danh: Oligodon deuvei David, Vogel & Van Rooijen, 2008
Tên khác: Rắn khiếm lào

RẮN KHIẾM DEUVEI

Oligodon deuvei David, Vogel & Van Rooijen, 2008

Họ: Rắn nước Colubridae

Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:

Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 267 mm. Dài đuôi 42.1 mm. Dài đầu 9.9 mm. Rộng đầu 5.9 mm. Sâu đầu 4.1 mm. Đường kính mắt 1.7 mm. Dài mõm 2.5 mm. Hàng vảy lưng 17 – 17 – 15, tất cả đều mịn. Con ngươi tròn. Vảy môi trên 7 (3 – 4) / 7 (3 – 4), trong đó vảy thứ 2 và 3 ở cả hai mặt nối với vảy má. Vảy má 1/1. Vảy trước mắt 1/1. Không có vảy trước dưới mắt. Vảy sau mắt 2/2. Vảy thái dương 1+2/1+2. Vảy môi dưới 8 (4) / 8 (4). Vảy trước bụng 1. Vảy bụng 149. Vảy huyệt đơn. Vảy dưới đuôi 35 cặp. Vảy lưng giảm từ 17 xuống 15 ở ngay trên vảy bụng thứ 97 bằng sự hoà lẫn của các hàng vảy thứ 4 và 5 (trái) và 3 và 4 (phải). Ở mỗi bên, hai răng hàm trên ngoài cùng nở rộng mạnh.

Màu sắc trong tự nhiên: Sọc xương sống màu nâu sáng rộng, được bao viền bởi hai sọc ven xương sống màu nâu đậm. Mặt bên thân màu nâu xám sáng, có một sọc lưng bên ở mỗi bên, ít tương phản và nổi hơn các sọc ven xương sống. 5 vệt lớn rõ trên mặt lưng của đầu. Một vằn ngang qua mõm. Một vệt hình mũi mác, hai sọc xiên trực tiếp chạy ra xuống ra sau. Một vạch gáy rộng hình mũi tên (không chạm vảy bụng). Mặt bụng của thân và đuôi màu đỏ sáng ở giữa, trắng hai bên và có vệt vuông góc màu đen rải rác. Mặt dưới của đuôi gần như màu đỏ sáng. Không có vệt đen ở mặt trên đuôi. Lưỡi màu đỏ sáng và con ngươi màu đen.

Sinh học, sinh thái:

Loài rắn săn mồi ban ngày và đêm trên mặt đất ở nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau. Từ vùng thường xanh cho đến các khu vực đất nông nghiệp hay các khu vực đô thị hoang hóa. Thức ăn là các loài ếch nhái, thú gặm nhấm nhỏ, đôi khi chúng ăn cả trứng chim.

Oligodon deuvei khác các loài cùng Giống khác bởi những đặc điểm sau:

Khác với loài Oligodon barroni bởi nhiều răng hàm trên hơn, không có vệt lưng lớn và xuất hiện sọc xương sống rộng (so với không có sọc xương sống ở Oligodon barroni)

Khác với loài Oligodon mouhoti bởi khác màu xương sống.

Khác với loài Oligodon formosanus bởi có 17 vảy hàng vảy giữa thân (so với 19 hàng ở Oligodon fomosanus). Vảy bụng và dưới đuôi nhiều hơn (160 so với 45 ở Oligodon fomosanus) và khác ở cơ quan sinh dục.

Loài này được đặt tên để vinh danh ông Jean Deuve (1918-2008). Vì những đóng góp to lớn của ông cho ngành bò sát học Lào, Ông Deuve đã dành khoảng 20 năm ở Lào, đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ chính trị và quân sự, đồng thời tiến hành nghiên cứu về động vật hoang dã, đặc biệt là các loài rắn.

Phân bố:

Trong nước: Khánh Hoà (Nha Trang, Tây Ninh, Đồng Nai (Định Quán, Vườn quốc gia Cát Tiên, Khu BTTN Vĩnh Cửu), Tiền Giang, Mỹ Tho, Sóc Trăng, Bà Rịa – Vũng Tàu (Côn Đảo)

Nước ngoài: Đông Bắc Thái Lan (huyện Muang, tỉnh Loei), Lào.

Giá trị:

Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.

Tình trạng:

Số lượng còn gặp nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.

Biện pháp bảo vệ:

Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

 

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae