TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Hoàng Minh Đức

Rắn khiếm cát

Tên tiếng Anh: Sand kukri snake
Tên Latin: Oligodon arenarius
Đồng danh: Oligodon arenarius Anna B. Vassilieva, 2016
Đồng danh: Oligodon arenarius Anna B. Vassilieva, 2016
Đồng danh: Oligodon arenarius Anna B. Vassilieva, 2016
Đồng danh: Oligodon arenarius Anna B. Vassilieva, 2016
Tên khác: Rắn khiếm bình châu
  • Độ cao so mặt nước biển 50 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN KHIẾM CÁT

Oligodon arenarius Anna B. Vassilieva, 2016
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn khiếm cát có kích thước nhỏ, thân hình trụ, mảnh, màu xám nhạt, với các chấm màu đen, hay nẫu sẫm, không đều nằm rải rác ở tất cả các vảy lưng chạy từ đầu đến gần mút đuôi. Có 2 sọc màu nâu ở vảy sát vảy đỉnh đầu kéo dài xuống hai má. Một mảng màu nâu hình ly ngược bắt đầu từ vảy giữa đình đầu kéo dài và mở rộng đến sau gáy. Mõm hẹp, hình tam giác, nhọn ở đỉnh; mút mõm mở rộng và dài hơn hàm dưới; lỗ mũi lớn hình bầu dục; mắt khá nhỏ, khoảng 0,17 lần chiều dài đầu; con ngươi tròn. Có 17 hàng vảy lưng; 6 – 8 vảy má hàm trên ở mỗi bên và 5 – 6 hàng vảy hàm dưới, 131 – 144 vây bụng, màu hồng nhạt; 36 – 60 sau đuôi (36 – 40 ở con cái, 58 – 60 ở con đực).
Sinh học, sinh thái:
Loài mới được công bố sau khi so sánh hình thái với các loài rắn Khiếm (Oligodon sp.) khác phân bố trong khu vực. Tên loài mới là một tính từ bắt nguồn từ chữ Latin “arena” có nghĩa “cát, trên cát”, “arenarius” có nghĩa “sống ở vùng cát” nhằm đặc tả môi trường sống ven biển đầy cát và khả năng di chuyên hết sức nhanh nhẹn trên cát của loài này. Sống trong các khu rừng nửa khô hạn, rừng khộp và các đồi cát ven biển.
Phân bố:
Loài mới phát hiện năm 2016 ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu thuộc tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài hiếm gặp trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thấ Cường – Web Admin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae