TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Quảng Trường

Rắn khiếm baron

Tên tiếng Anh: Barron's kukri snake
Tên Latin: Oligodon barroni
Đồng danh: Simotes barroni Smith, 1961
Đồng danh: Holarchus taeniatus caudaensis Bourret, 1934
Đồng danh: Simotes barroni Smith, 1961
Đồng danh: Holarchus taeniatus caudaensis Bourret, 1934
Tên khác: Rắn khiếm núi
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN KHIẾM BARON

Oligodon barroni (Smith, 1961)
Simotes barroni Smith, 1961
Holarchus taeniatus caudaensis Bourret, 1934
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước nhỏ, tổng chiều dài lên đến 400 mm. Cơ quan bán sinh dục đam chéo sâu, không có gai nhưng có hai nhú thuỳ lớn. 17 hàng vảy lưng giữa thân, trong đó 15 hàng vảy trước huyệt. 10 – 13 răng hàm trê, hai cái cuối cùng nở rộng mạnh. Đầu phủ vảy toàn bộ, không bao giờ có một vảy dưới trước mắt. 7 (hiếm khi vảy môi trên. Vảy huyệt đơn. Có 10 – 14 vết đen hoặc nâu đậm ở mặt trên của thân và 2 – 3 vằn như thế ở đuôi. Có 5 vệt lớn trên đỉnh đầu: Một vệt ngang phía trước chạy qua mút mõm. Một vệt trán dọc. Một cặp vệt xéo trung tâm đổ xuống trực tiếp phía sau. Và một vạch gáy hình mũi tên. Các nhánh của vệt xéo trung tâm không chạm vảy bụng.
Sinh học, sinh thái:
Rắn khiếm barron là loài có phân bố rộng ở các vùng đồng bằng và đồi núi cao đến 300m. Thức ăn là các loài lưỡng cư phổ biến trong khu vực phân bố, kiếm ăn đêm và là loài rắn không độc có thể nuôi làm cảnh đẹp.
Phân bố:
Trong nước: Khánh Hoà (Cầu Đá), Bình Phước (Vườn quốc gia Bù Gia Mập), Lâm Đồng, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Đồng Nai (Trảng Bom, Vườn quốc gia Cát Tiên)
Nước ngoài: Loài này thường thấy ở các tỉnh phía Đông nam Thái Lan, cũng như Campuchia và Lào.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae