TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn hoa cỏ xiêm

Tên tiếng Anh: Red-necked keelback snake
Tên Latin: Rhabdophis siamensis
Đồng danh: Natrix subminiata siamensis Mell, 1931
Đồng danh: Rhabdophis himalayanus laobaoensis Bourret, 1934
Đồng danh: Natrix subminiata siamensis Mell, 1931
Đồng danh: Rhabdophis himalayanus laobaoensis Bourret, 1934
Tên khác: rắn học trò nam
  • Độ cao so mặt nước biển M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN HOA CỎ XIÊM

Rhabdophis siamensis (Mell, 1931)
Natrix subminiata siamensis Mell, 1931
Rhabdophis himalayanus laobaoensis Bourret, 1934
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kính thước nhỏ, chiều dài khoảng 130 cm, đầu thuôi dài phân biệt rõ với cổ. Lỗ mũi tròn, nằm ở giữa tấm mũi chia đường nối giữa hai tấm gian mũi gần bằng đường nối giữa 2 tấm trước trán. Tấm trán dài hơn rộng, nhỏ hơn tấm đỉnh, ngắn hơn khoảng cách đến mút mõm. có 1 tấm má dài hơn cao một ít, nằm trên tấm mép trên thứ 2, phía trên tiếp xúc với tấm trước trán. Có 8 tấm mép trên ở mỗi bên, tấm thứ 3, 4,5 chạm mắt và từ 8 -10 tấm mép dưới ở mỗi bên. Tấm cằm hình tam giác, rộng hơn dài. Vảy thân gồm 19 hàng có gờ trừ hàng vảy ngoài cùng nhẵn, vảy bụng từ 160 – 167 tấm, vảy dưới đuôi 84 – 86 tấm, tấm hậu môn chia.
Thân màu xanh đen hoặc xám đen, phần đầu có màu sẫm. Nửa trước của thân thường có các vân đen, không đều giữa trên lưng và hai bên thân, mép trắng, gáy có hoặc không có vòng đen, phần cổ có màu vàng nhạt và nâu đõ ở con non rất rõ và nhạt dần khi trưởng thành. Cằm và họng màu trắng nhạt. Loài này rất giống với loài Rắn hoa cỏ helleri – Rhabdophis helleri phân bố ở phía Nam Việt Nam và Thái Lan, Cambodia… Hai loài này có đặc điểm hình thái khác nhau ở phần gáy và vùng phân bố.
Sinh học, sinh thái:
Hoạt động, kiếm ăn ban ngày này thích những nơi đất thấp có nhiều nước ở trong rừng và đồi núi có độ cao tới 1.780m. Đây lá loài rắn độc gây nguy hiểm cho con người. Các loài rắn độc thường có răng nanh tiêm nọc độc mọc ở phía ngoài (frontfang). Các loài rắn độc thường có răng nanh tiêm nọc độc mọc ở phía ngoài (frontfang). Một số loài rắn độc khác có gai độc nằm sâu bên trong hàm nên rất khó phân biệt. Các loài rắn thuộc các loài rắn hoa cỏ Rhabdophis sp. thường có răng nanh ẩn sâu phía sau các răng hàm (reared-fang), các răng nanh này lại rất nhỏ, ngắn và xếp gọn ở sâu trong hàm răng của rắn nên rất khó phát hiện. Đó là lý do khiến những vết cắn của loài rắn này hiếm khi gây nguy hiểm cho con người và vết cắn chỉ thực sự nguy hiểm khi cắn sâu vào các bộ phận có gờ nhỏ như kẽ giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ (đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em). Ngoài ra nó còn có một tuyến nọc khác gọi là tuyến Nuchal. Tuyến này có khả năng lọc và giữ lại các chất độc từ con mồi mà các loài rắn này thường ăn như loài Cóc nhà Duttaphrynus melanostictus và Cóc rừng Ingerophrynus galeatus và cơ thể chúng tự tổng hợp, chuyển hóa các chất độc của con mồi thành nọc độc của chính nó..
Mỗi lần đẻ từ 5 – 17 trứng, thời gian ấp cho trứng nở từ 8 – 10 tuần; rắn con dài 13 – 19cm. Loài này đã phát hiện có tuyến độc khi bị rắn này cắn có những triệu chứng nghiêm trọng. Từ năm 1997 đến nay theo dữ liệu của bệnh viện Chợ Rẫy đã ghi nhận có 24 ca do Rắn hoa cỏ nhỏ Rhabdophis subminiatus tấn công. Loài Rắn này gây hậu quả nặng nề, nạn nhân bị cắn sẽ có các triệu chứng như: Rồi loạn đông máu như vết cắn rắn lục. Đã có 2 ca tử vong do loài rắn này vào năm 2009 và 2011. Hiện tại trên thế giới chưa có huyết thanh kháng độc cho loài rắn này
Phân bố:
Trong nước: Loài này gần như có hầu hết các tỉnh miền Trung và miền Nam Việt Nam từ Quảng Trị cho đến Kiên Giang.
Nước ngoài: Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia, Malaysia
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn khá phổ biến, nhưng cần quan tâm bảo về và nghiên cứu sinh thái, tập tính cũng như huyết thanh kháng độc để chữa trị cho người bị loài rắn này cắn.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tà loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae