Rắn hoa cỏ vàng
| Tên tiếng Anh: | Specklebelly keelback |
|---|---|
| Tên Latin: | Rhabdophis chrysagos |
| Đồng danh: | Tropidonotus chrysargos Schlegel, 1837 |
| Đồng danh: | Tropidonotus junceus Cantor, 1847 |
| Đồng danh: | Amphiesma chrysargos Jan, 1863 |
| Đồng danh: | Leptophis albomaculatus Duméril, Bibron & Duméril, 1854 |
| Tên khác: | Rắn hoa cỏ bụng đốm |
- Độ cao so mặt nước biển 600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Đồng Nai Gia Lai Lâm Đồng Nghệ An Quảng Trị Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ Vườn Quốc Gia Pù Mát, Việt Nam Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai
- Môi trường sống Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Trảng cỏ cây bụi Rừng thường xanh núi cao Trong các khu vực hang động, hang đá
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài có nọc độc nguy hiểm chết người Loài bò sát kiếm ăn ban ngày Kiếm ăn trên cây gỗ nhỏ, bụi rậm trong rừng
RẮN HOA CỎ VÀNG
Rhabdophis chrysargos (Schlegel, 1837)
Tropidonotus chrysargos Schlegel, 1837
Tropidonotus junceus Cantor, 1847
Amphiesma chrysargos Jan, 1863
Leptophis albomaculatus Duméril, Bibron & Duméril, 1854
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Đầu của loài rắn đẹp này màu nâu sẫm hoặc đen. Phía trên mép màu trắng với những vết như vết khâu màu đen; cằm và cổ họng màu trắng trơn. Thân hình trụ, mảnh, màu nâu xanh lục nhạt với những đốm tròn bên hông màu đỏ nhạt dần đi về phía trước. Bụng màu trầng có những đốm tròn đen ở rìa bên. Rắn con có những vạch hình chữ V trên cổ. Kích thước khoảng 77cm
Sinh học, sinh thái:
Nơi sinh sống thường được tìm thấy dọc các con suối vào ban ngày. Nó ăn chuột, chim nhỏ, ếch và thằn lằn. Mỗi lứa đẻ từ 3 – 10 trứng, rắn con ra đời sau thời gian ấp từ 7 – 9 tuần, dài 15 – 22cm. Loài rắn này sống ở các khu rừng rậm trên núi cao đến 1.700m. Các loài rắn độc thường có răng nanh tiêm nọc độc mọc ở phía ngoài (front–fang). Một số loài rắn độc khác có gai độc nằm sâu bên trong hàm nên rất khó phân biệt. Các loài rắn thuộc các loài rắn hoa cỏ Rhabdophis sp. thường có răng nanh ẩn sâu phía sau các răng hàm (reared-fang), các răng nanh này lại rất nhỏ, ngắn và xếp gọn ở sâu trong hàm răng của rắn nên rất khó phát hiện. Đó là lý do khiến những vết cắn của loài rắn này hiếm khi gây nguy hiểm cho con người và vết cắn chỉ thực sự nguy hiểm khi cắn sâu vào các bộ phận có gờ nhỏ như kẽ giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ (đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em). Ngoài ra nó còn có một tuyến nọc khác gọi là tuyến Nuchal. Tuyến này có khả năng lọc và giữ lại các chất độc từ con mồi mà các loài rắn này thường ăn như loài Cóc nhà Duttaphrynus melanostictus và Cóc rừng Ingerophrynus galeatus và cơ thể chúng tự tổng hợp, chuyển hóa các chất độc của con mồi thành nọc độc của chính nó.
Với vẻ ngoài hiền lành, không giống các loài rắn độc khác. Nhưng nọc độc của các loài rắn Rhabdophis sp. rất nguy hiểm vì hiện này chúng ta chưa có huyết thanh kháng độc. Nọc độc của các loài rắn thuộc giống Rhabdophis này gây xuất huyết toàn thân rất nguy hiểm, nặng hơn có thể gây xuất huyết não dẫn đến tử vong.
Phân bố:
Trong nước: Hà Tây (Ba Vì), Hoà Bình, Hà Bắc, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Gia Lai, Lâm Đồng, Đồng Nai (Trảng Bom)
Nước ngoài: Loài này phân bố trên khắp các lục địa phía Đông nam châu Á, Hải Nam, Philippines và nhiều nơi ở Indonesia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Chùm bao
Tên tiếng Anh:Stinking passionflower
Tên Latin:Passiflora foetida
Cóc mày parva
Tên tiếng Anh:Brown horn frog
Tên Latin:Megophrys parva
Rắn lục đuôi đỏ cardamon
Tên tiếng Anh:Cardamom mountains green pitviper
Tên Latin:Trimeresurus cardamomensis
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae