Rắn hoa cỏ đai
| Tên tiếng Anh: | Green keelback |
|---|---|
| Tên Latin: | Rhabdophis nigrocinctus |
| Đồng danh: | Tropidonotus nigrocinctus Boulenger, 1893 |
| Đồng danh: | Tropidonotus eisenhoferi Gyldenstolpe, 1916 |
| Đồng danh: | Natrix nigrocinctus Smith, 1922 |
| Đồng danh: | Pseudoxenodon fruhstorferi Werner, 1925 |
| Tên khác: | Rắn hoa cỏ xanh |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Khánh Hòa Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, Khánh Hòa Lâm Đồng Lai Châu Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Việt Nam Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Tè, Lai Châu
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng núi đá vôi Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài có nọc độc nguy hiểm chết người Ăn các loài lưỡng cư và gặm nhấm nhỏ Kiếm ăn trên cây gỗ nhỏ, bụi rậm trong rừng
RẮN HOA CỎ ĐAI
Rhabdophis nigrocinctus (Blyth, 1856)
Tropidonotus nigrocinctus Boulenger, 1893
Tropidonotus eisenhoferi Gyldenstolpe, 1916
Natrix nigrocinctus Smith, 1922
Pseudoxenodon fruhstorferi Werner, 1925
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước nhỏ, dài thân khoảng 95 cm. Thân có nhiều màu sắc đẹp lúc con non khác với rắn trưởng thành. Rắn trưởng thành có thân màu xanh lục sẫm nhưng phía thân sau chuyển sang màu xanh lục pha nâu nhạt. Hai bên thân có các vạch đen có thể nối liền với mép bụng. Đầu màu nâu đậm có những đường đen; phần trên mép màu xám. Cằm, cổ họng, và phần bụng màu trắng chuyển sang màu hơi xám về phía sau, phần dưới đuôi màu xám đậm với các đường rìa màu trắng.
Sinh học, sinh thái:
Loài rắn ăn đêm này săn bắt ếch và cá làm thức ăn chính. Loài này được tìm thấy ở độ cao lên tới 2.100m so với mực nước biển. Các loài rắn độc thường có răng nanh tiêm nọc độc mọc ở phía ngoài (front–fang). Một số loài rắn độc khác có gai độc nằm sâu bên trong hàm nên rất khó phân biệt. Các loài rắn thuộc các loài rắn hoa cỏ Rhabdophis sp. thường có răng nanh ẩn sâu phía sau các răng hàm (reared-fang), các răng nanh này lại rất nhỏ, ngắn và xếp gọn ở sâu trong hàm răng của rắn nên rất khó phát hiện. Đó là lý do khiến những vết cắn của loài rắn này hiếm khi gây nguy hiểm cho con người và vết cắn chỉ thực sự nguy hiểm khi cắn sâu vào các bộ phận có gờ nhỏ như kẽ giữa ngón tay cái và ngón tay trỏ (đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em). Ngoài ra nó còn có một tuyến nọc khác gọi là tuyến Nuchal. Tuyến này có khả năng lọc và giữ lại các chất độc từ con mồi mà các loài rắn này thường ăn như loài Cóc nhà Duttaphrynus melanostictus và Cóc rừng Ingerophrynus galeatus và cơ thể chúng tự tổng hợp, chuyển hóa các chất độc của con mồi thành nọc độc của chính nó.
Với vẻ ngoài hiền lành, không giống các loài rắn độc khác. Nhưng nọc độc của các loài rắn Rhabdophis sp. rất nguy hiểm vì hiện này chúng ta chưa có huyết thanh kháng độc. Nọc độc của các loài rắn thuộc giống Rhabdophis này gây xuất huyết toàn thân rất nguy hiểm, nặng hơn có thể gây xuất huyết não dẫn đến tử vong. Tên loài được đặt tên theo nghĩa Latin “niger” và “cinctus”, có nghĩa là “đen” và “thắt lưng”. Dùng để chỉ những dải đen trên cơ thể của chúng.
Phân bố:
Việt Nam: Đã gặp loài này ở Lai Châu (Mường Nhé), Lâm Đồng (Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà) và Khánh Hòa (Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà).
Thế giới: Thái Lan (phía Nam Surat Thani), Myanmar, Trung Quốc (Vân Nam), Lào, Malaysia
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Gà lôi lam mào đen
Tên tiếng Anh:Imperial pheasant
Tên Latin:Lophura imperialis
Thằn lằn bóng bà rá
Tên tiếng Anh:Bara ground skink
Tên Latin:Scincella baraensis
Rắn bồng chì
Tên tiếng Anh:Rice paddy snake
Tên Latin:Enhydris plumbea
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae