Rắn hổ mây ngọc
| Tên tiếng Anh: | Mountain slug snake |
|---|---|
| Tên Latin: | Pareas margaritophorus |
| Đồng danh: | Leptognathus margaritophorus Jan, 1866 |
| Đồng danh: | Dipsas margaritophorus Nguyen & Ho, 1996 |
| Đồng danh: | Leptognathus margaritophorus Jan, 1866 |
| Đồng danh: | Dipsas margaritophorus Nguyen & Ho, 1996 |
| Tên khác: | Rắn hổ mây đầu bạc |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Trung Quốc Vĩnh Phúc Kontum Quảng Ninh Hầu khắp Đông nam Á Vườn quốc gia Tam Đảo, Việt Nam Vườn quốc gia Bái Tử Long, Việt Nam Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Sống ở trên cây Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Côn trùng gây hại cây trồng Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài bò sát kiếm ăn ban đêm Kiếm ăn ở các savan, đồng cỏ, đất nông nghiệp trồng trọt Ăn các loài ốc sên sống trong khu vực phân bố
RẮN HỔ MÂY NGỌC
Pareas margaritophorus (Jan, 1866)
Leptognathus margaritophorus Jan, 1866
Dipsas margaritophorus Nguyen & Ho, 1996
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Con cái, tổng chiều dài 359 mm, dài đuôi 53 mm. Mắt tương đối lớn. Các vảy gian mũi dài bằng một nửa các vảy trước trán. Vảy trước trán chạm mắt. Vảy trán dài bằng rộng. Vảy má dài hơn cao, không chạm mắt. 2 vảy trước mắt. Vảy sau mắt đơn, thon dài. Vảy thái dương 2+3. Vảy môi trên 8. Vảy lưng mịn, công thức hàng vảy 15 – 15 – 15. Vảy bụng 146. Vảy dưới đuôi 37, đôi. Vảy huyệt nguyên. Trong tự nhiên: Mặt lưng của đầu, thân và đuôi màu xám sẫm có sọc ngang ngắn gồm những đốm đen trắng ở các bên của thân, các vảy trắng phía trước và đen phía sau. Vảy môi trên màu kem và phớt xám. Cổ có một vạch ngang màu kem. Mặt bụng trắng, nhiều vệt thâm.
Rắn hổ mây đầu bạc Pareas margaritophorus khác với các loài thuộc Giống Pareas ở những đặc điểm sau:
- Khác với loài Pareas temporalis ở phần đầu có màu trắng khác biệt, con non có cổ màu vàng cam. Vảy trước trán chạm mắt. Pareas temporalis có 2 vảy dưới mắt, Pareas margaritophorus và các loài khác không có hoặc chỉ có 1 hoặc bị lẫn với vảy sau mắt. Pareas temporalis có 2 – 3 vảy sau mắt. Pareas margaritophorus và các loài trong Giống Pareas chỉ có 1 – 2 vảy hoà lẫn với vảy dưới mắt. Tất cả các vảy lưng Pareas temporalis có gờ, Pareas margaritophorus và các loài trong Giống Pareas thì có gờ tất cả các vảy. Pareas temporalis có 4 – 5 vảy trước thái dương. Pareas margaritophorus và các loài trong Giống Pareas chỉ có 1 – 2 vảy – Vảy trán hình lục giác có mặt bên song song trục thân.
- Khác với loài Pareas macularius ở phần đầu và cấu trúc vảy thân. Phần đầu của Pareas margaritophorus có màu trắng, con non có cổ màu cam, phần đầu cùa Pareas macularius không có màu trắng và con non không có cổ màu cam
Sinh học, sinh thái:
Sống hoàn toàn trên cây trong rừng thường xanh ở độ cao thấp 400 m đến 800m, nơi tổ thành của các loài cây gỗ nhỏ, trung bình và cây bụi. Thức ăn chủ yếu là những loài ốc sên ăn lá cây. Con cái đẻ bốn trứng màu vàng. Kích thước trứng 14.5 – 16.2 mm.
Phân bố:
Trong nước: Vườn quốc gia Bái Tử Long, Quảng Ninh. Vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc và Kontum
Nước ngoài: Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc (Quảng Đông, Hồng Kông, Quảng Tây, Hải Nam).
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bọ ngọc buquet
Tên tiếng Anh:Red speckled jewel beetle
Tên Latin:Chrysochroa buqueti
Bồ câu nâu
Tên tiếng Anh:Pale-capped pigeon
Tên Latin:Columba punicea
Mèo ri
Tên tiếng Anh:Jungle cat
Tên Latin:Felis chaus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae